Quan điểm của triết học Mác

Bài viết Quan điểm của triết học Mác thuộc chủ đề về HỎi Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer.Com.Vn tìm hiểu Quan điểm của triết học Mác trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung : “Quan điểm của triết học Mác”

Đánh giá về Quan điểm của triết học Mác


Xem nhanh
97-Ý thức thông thường và ý thức lý luận
Kỉ niệm mồng 2 tết Nhâm Dần 2022
Kênh Youtube Triết học123
Người đại diện: Tiến sỹ Lê Văn Hùng và TS. Hà Thị Bắc
Trân trọng cảm ơn các bạn đã xem, có những nhận xét, động viên để tôi có những video tốt hơn. Chúc các bạn luôn dồi dào sức khỏe, vui vẻ và hạnh phúc.
Mong các bạn chia sẻ để mọi người biết nhiều hơn về kênh, đăng kí để kênh đạt mốc 10 nghìn người đăng kí.
Trân trọng,
#HùngLê-Lýluậnchínhtrịvàxãhội
#SửViệt
#Triếthọc123
#triết_học #triết_học_Mác_Lênin
#chủ_nghĩa_xã_hội_khoa_học
#chủ_nghĩa_duy_vật_biện_chứng
#phép_biện_chứng_duy_vật
#chủ_nghĩa_duy_vật_lịch_sử

(LLCT) – Vấn đề ý thức xã hội là một nội dung quan trọng của triết học Mác – Lênin. Việc tìm hiểu sâu sắc vấn đề này có ý nghĩa rất lớn đối với nhiệm vụ xây dựng ý thức xã hội mới, từ đó góp phần vào thành công của quá trình xây dựng đất nước phát triển theo hoạch định xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Quan điểm của triết học Mác - Lênin về ý thức xã hội và ý nghĩa đối với việc xây dựng ý thức xã hội mới Hiện tại

Theo quan điểm mácxít, về bản chất, ý thức xã hội là sự phản ánh và do tồn tại xã hội quyết liệt: Ảnh minh họa, nguồn: Internet

Nước ta Hiện tại đang trong quy trình phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để đạt được mục tiêu này, cùng với việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, chúng ta đồng thời phải xây dựng và phát triển cuộc sống tinh thần của xã hội mà ý thức xã hội là một bộ phận cấu thành quan trọng. 

1. Khái niệm ý thức xã hội đã được C.Mác – Ph.Ăngghen đề cập tới trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức.

Trong tác phẩm, nội dung cơ bản của khái niệm ý thức xã hội được thể hiện rõ ở luận điểm “ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức”(1). Trước khi rút ra kết luận này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thích rõ về quan hệ giữa những ý niệm, quan niệm của con người với hoạt động vật chất của họ: “… những quan niệm, tư duy, sự giao tiếp tinh thần của con người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực tiếp của các quan hệ vật chất của họ. Đối với sự sản xuất tinh thần, đúng như nó biểu hiện trong ngôn ngữ của chính trị, của luật pháp, của đạo đức, của tôn giáo, của siêu hình học, v.v.. trong một dân tộc thì cũng thế”(2). Những luận nơi này khẳng định, ý thức xã hội là sản phẩm của tồn tại xã hội. Ý thức xã hội bắt nguồn từ tồn tại xã hội, hình thành do mong muốn của tồn tại xã hội, và đặc biệt, là kết quả tất yếu của vận hành vật chất có tính xã hội của con người và cũng đáp ứng yêu cầu của tồn tại xã hội một cách tất yếu.

Cùng với khái niệm ý thức xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng bàn đến khái niệm tồn tại xã hội. Theo các nhà kinh điển, tồn tại xã hội là quá trình cuộc sống hiện thực của con người. Đó là quá trình vận hành, sinh sống vật chất của các cá nhân cùng với những khó khăn sinh hoạt vật chất của họ. Trong toàn bộ sinh hoạt hiện thực của con người, trước hết các ông đề cập đến vị trí, vai trò quan trọng quyết định của sản xuất vật chất, đặc biệt là sự sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt. C.Mác và Ph.Ănghen viết: “Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”(3)

Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, đồng thời trên cơ sở thực tiễn của thời đại và thực tế ở Nga, V.I.Lênin đã phát triển và khái quát thêm nhiều nội dung mới và chi tiết hơn về vấn đề nguồn gốc, bản chất của ý thức xã hội. Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, sau khi phê phán quan điểm sai lầm của Bôgđanốp khi ông ta cho rằng tồn tại xã hội và ý thức xã hội là đồng nhất. V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Tồn tại xã hội và ý thức xã hội không phải là đồng nhất, tương đương nói chung, tồn tại và ý thức không phải là đồng nhất. Con người, khi LH với nhau, đều đặn xử sự với tư cách là những sinh vật có ý thức, nhưng hoàn toàn không thể do đó mà kết luận rằng ý thức xã hội là đồng nhất với tồn tại xã hội”(4). Theo V.I.Lênin, “Trong tất cả những hình thái xã hội ít nhiều phức tạp, và nhất là trong hình thái xã hội tư bản, con người, khi liên hệ với nhéu, đều đặn không có ý thức về những mối quan hệ xã hội giữa họ với nhéu, hoặc về những quy luật chi phối sự phát triển của những mối quan hệ ấy, v.v.[…] Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, đó là học thuyết của Mác. Hình ảnh có thể phản ánh vật thể một cách gần đúng, nhưng ở đây mà nói về sự đồng nhất thì vô lý”(5) và ông đi đến kết luận: “Nói chung, ý thức phản ánh tồn tại, đó là một nguyên lý chung của toàn bộ chủ nghĩa duy vật, và không thể không nhìn thấy mối liên lạc trực tiếp và mật thiết giữa nguyên lý ấy với nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội”(6).

Khẳng định ý thức xã hội là sự phản ánh và do tồn tại xã hội quyết định, triết học Mác – Lênin cũng cùng lúc ấy nhấn mạnh, ý thức xã hội không phụ thuộc hoàn toàn vào tồn tại xã hội mà nó có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội. Quan điểm này được thể hiện rõ trong những luận điểm phê phán chủ nghĩa duy tâm khi họ tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, ý thức xã hội. Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra quan niệm duy tâm về lịch sử (thực chất là giải thích sai lệch về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội) của cả phái Hêghen trẻ và phái Hêghen già: “Phái Hêghen trẻ cho rằng những quan niệm, ý niệm, khái niệm, nói chung những danh mục của ý thức mà họ gán cho là có một sự tồn tại độc lập, đều đặn là những xiềng xích thật sự đối với con người, – giống như phái Hêghen già tuyên bố rằng chúng là những sợi dây ràng buộc thực sự đối với xã hội loài người, – cho nên dĩ nhiên phái Hêghen trẻ chỉ cần tiến hành đấu tranh chống lại những ảo tưởng đó của ý thức mà thôi. Vì theo họ tưởng tượng, những quan hệ của con người, tất cả mọi hành động và cử chỉ của con người… đều đặn là sản phẩm của ý thức của họ”(7).

Khi bàn về nguyên nhân của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, triết học Mác – Lênin cho rằng, chính sự phân công lao động xã hội là tác nhân đầu tiên và chủ yếu nhất. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Phân công lao động chỉ trở thành phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần. Bắt đầu từ lúc đó, ý thức có khả năng thực sự tưởng tượng rằng nó là một cái gì khác chứ không phải là ý thức về thực tiễn hiện có, rằng nó có khả năng thực sự đại biểu cho một cái gì đó mà không đại biểu cho một cái gì hiện thực cả; bắt đầu từ lúc đó, ý thức có khả năng tự giải thoát khỏi thế giới và chuyển sang xây dựng lý luận “thuần túy”, thần học, triết học, đạo đức, v.v..”(8).

Mọi Người Xem :   Tóm tắt công thức kinh tế vi mô - Tài liệu text

Một tác nhân khác của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội là do sự phân chia xã hội thành giai cấp và sự xuất hiện của nhà nước. Vì lợi ích giai cấp mà các giai cấp thống trị sẵn sàng áp đặt ý chí và nguyện vọng của mình vào vận hành nhận thức cũng như hoạt động sản xuất tinh thần. Chính điều đó làm cho ý thức xã hội ít thường xuyên mang tính chất chủ quan, không phản ánh đúng thực trạng kinh tế – xã hội. 

Ngoài các tác nhân trên, trình độ và đặc điểm nhận thức của con người cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự độc lập của ý thức xã hội. Theo Ph.Ăngghen, trong buổi bình minh của lịch sử, do nhận thức thấp kém, con người đã có những quan niệm sai lầm về sự cấu tạo của thân thể họ, về thiên nhiên, về những lực lượng bí ẩn… Những quan niệm sai lầm đó được thể hiện không những trong tôn giáo mà còn cả trong triết học. Trong quá trình phát triển của nhận thức, những quan niệm sai lầm đó được gạt bỏ dần dần, nhưng không phải vì thế mà chúng không còn gây ra gây ảnh hưởng những giai đoạn nhận thức tiếp theo.

Cùng với việc chỉ ra nguyên nhân của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, triết học Mác – Lênin đã đưa ra quan điểm về những biểu hiện của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội.

Thứ nhất, đó là sự lạc hậu của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội. Biểu hiện sự lạc hậu của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội ở chỗ, thường xuyên khi tồn tại xã hội đã thay đổi ngay nhưng ý thức xã hội chưa thay đổi ngay kịp và trở nên lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Trong tác phẩm Ngày mười tám tháng Sương mù của Louis Bonaparte, C.Mác đã viết: “Con người làm ra lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy thuận tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những khó khăn trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại. Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống. Và ngay khi con người có vẻ như là đang ra sức tự cải tạo mình và cải tạo sự vật, ra sức sáng tạo ra một cái gì chưa từng có, thì chính trong thời kỳ khủng hoảng cách mạng như thế, họ lại sợ sệt cầu viện đến những linh hồn của quá khứ, lại mượn tên tuổi, khẩu hiệu chiến đấu, y phục của những linh hồn đó, để rồi đội cái lốt đáng kính ấy của người xưa, và dùng những lời lẽ vay mượn đó, để trình diễn màn mới của lịch sử thế giới”(9). Vậy là ở đây, C.Mác đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, những người đang sống trong một thời đại nào đó không phải chỉ chịu sự tác động của những quy chế xã hội Hiện tại, của luật pháp Hiện tại mà cùng lúc ấy, còn phải chịu tác động từ những tư tưởng của thời đại trước.

Do những tư tưởng, quan niệm, phong tục, truyền thống lạc hậu… vẫn còn tồn tại và trở thành những lực cản cho quy trình xây dựng xã hội mới nên theo V.I.Lênin, một trong những nhiệm vụ cơ bản của Đảng Cộng sản là phải “giúp đỡ việc giáo dục và rèn luyện quần chúng lao động để khắc phục những tập tính cũ, những tập quán cũ do chế độ cũ để lại, những thói quen, những tập quán của người tư hữu đã tiêm nhiễm sâu vào quần chúng”(10).

Thứ hai, sự vượt trước của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội. Trong ý thức xã hội có một vài bộ phận có thể vượt trước tồn tại xã hội, có khả năng dự báo tương lai, chỉ ra quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan. Đó chính là các phát minh khoa học, các học thuyết chính trị, đặc biệt là các học thuyết chính trị tiến bộ – khoa học. Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã tiến một bước mang ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng thế giới quan khoa học khi ông chỉ ra vai trò vượt trước, tính tiên phong của lý luận. Ông viết: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình, và chỉ cần sấm sét của tư tưởng đã đánh một cách triệt để vào cái mảnh đất nhân dân còn nguyên vẹn ấy là việc phóng ra người Đức thành con người sẽ hoàn thành […] Đầu não của sự phóng ra ấy là triết học, trái tim của nó là giai cấp vô sản”(11). “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(12) chỉ đảng nào có được một lý luận tiên phong dẫn đường thì đảng đó mới làm tròn vai trò của một chiến sĩ tiên phong.

Thứ ba, tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội. Trong thư gửi cho C.Sơmít ngày 27 tháng mười năm 1890, khi bàn về tính kế thừa trong lịch sử tư tưởng nhân loại, Ph.Ănghen chỉ rõ rằng, ở Pháp tương đương ở Đức “triết học, cũng giống như sự hưng thịnh chung của nền văn học trong thời đại ấy, cũng là kết quả của một sự phát triển kinh tế”(13) nhưng sự phát triển ấy lại có tính độc lập tương đối của nó và không phụ thuộc hoàn toàn vào sự phát triển kinh tế mà có quy luật phát triển riêng, đó là quy luật về tính kế thừa. Ông viết: “… triết học của mỗi thời đại đều đặn có, với tư cách là tiền đề, một chất liệu tư tưởng nhất định, do những người đi trước nó truyền lại cho nó và nó xuất phát từ chất liệu ấy. Đó là lẽ tại sao những nước lạc hậu về kinh tế vẫn có thể đóng vai trò chủ chốt trong triết học: nước Pháp hồi thế kỷ XVII so với nước Anh là nước có một nền triết học mà người Pháp đã dựa vào, còn sau đó là nước Đức so với cả hai nước trên”(14).

Trong thư gửi cho F.Mêring, sau khi phê phán quan điểm duy tâm, tư biện về nguồn gốc của tư duy, của tư tưởng, Ph.Ăngghen cho rằng: “Trong lĩnh vực của mỗi khoa học, nhà tư tưởng lịch sử (lịch sử ở đây chỉ là một từ tập hợp để chỉ các khái niệm: chính trị, pháp luật, triết học, thần học, – tóm lại để chỉ tất cả những lĩnh vực có liên quan đến xã hội, chứ không đơn giản liên quan đến một cách tự nhiên) có một tài liệu nhất định hình thành một cách độc lập từ sự tư duy của các thế hệ trước và đi qua con đường phát triển độc lập của riêng nó trong não của những thế hệ  kế tiếp nhéu đó”(15).

V.I.Lênin trong bài Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ, trong quy trình phát triển, tư tưởng của nhân loại nói chung, học thuyết Mác nói riêng luôn luôn có tính kế thừa chứ không phải là một sự phủ định sạch trơn. Ông viết: “Học thuyết của ông ra đời là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội […] Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác… Nó là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp”(16).

Mọi Người Xem :   Khái niệm về quan hệ quốc tế - Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

Tiếp đó, trong Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, V.I.Lênin viết: “Văn hóa vô sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản, phát minh ra. Đó hoàn toàn là điều ngu ngốc. Văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người đã tích lũy được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu”(17) và “Người ta chỉ có khả năng trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”(18).

Thứ tư, sự tác động qua lại, sự tác động lẫn nhéu giữa các hình thái ý thức xã hội

Trong sự vận động và phát triển của mình, các hình thái ý thức xã hội phản ánh các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và luôn luôn có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhéu. Sự ảnh hưởng này làm cho mỗi hình thái ý thức có những mặt, những tính chất không thể giải thích một cách trực tiếp bằng tồn tại xã hội, bằng các điều kiện vật chất, mà phải bằng tính độc lập t­ương đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội (đặc biệt là tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội). Đây là vấn đề có tính quy luật. Về tình trạng này, Ph.Ănghen viết rằng: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật v.v.. đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế. Nh­ưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế. Vấn đề hoàn toàn không phải là chỉ có hoàn cảnh kinh tế mới là tác nhân, chỉ có nó là tích cực còn tất cả những cái còn lại đều đặn chỉ là hệ lụy thụ động. Không, ở đây ảnh hưởng qua lại trên cơ sở tất yếu kinh tế, xét cho cùng bao giờ cũng mở đường đi cho mình”(19).

Thứ năm, sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Trong thư gửi cho C.Sơmít ngày 27 tháng mười năm 1890 khi bàn về quan hệ giữa “sự vận động kinh tế” với nhà nước, với pháp luật, với tư tưởng, Ph.Ăngghen cho rằng sản xuất, xét đến cùng là nhân tố quyết liệt. tuy nhiên, trong những giới hạn nhất định, “quan điểm tư tưởng” có khả năng làm “thay đổi cơ sở kinh tế”. Ông viết: “Sự phản ánh của các quan hệ kinh tế dưới dạng các nguyên tắc pháp luật cũng tất yếu đặt lộn ngược những quan hệ đó. quá trình phản ánh này diễn ra ngoài ý thức của con người đang hành động; nhà luật học tưởng tượng rằng mình vận dụng những nguyên lý tiên nghiệm, mà đó chỉ là sự phản ánh của các quan hệ kinh tế. Như vậy, tất cả đều bị lộn ngược. Còn sự xuyên tạc đó – chừng nào nó chưa bị bóc trần – là cái mà công ty chúng tôi gọi là quan điểm tư tưởng, đến lượt mình, nó tác động trở lại đến cơ sở hạ tầng kinh tế và có khả năng biến đổi cơ sở hạ tầng ấy trong những giới hạn nhất định… ”(20).

không những có pháp luật tác động đến cơ sở kinh tế, mà ngay cả hệ tư tưởng chính trị, thông qua thiết chế xã hội tương ứng với nó là nhà nước cũng ảnh hưởng trở lại kinh tế. Cũng trong bức thư này, Ph.Ăngghen đã viết: “tác động ngược trở lại của quyền lực nhà nước đối với sự phát triển kinh tế có khả năng có ba loại. Nó có thể tác động cùng hướng – khi ấy sự phát triển diễn ra nhanh hơn; nó có thể ảnh hưởng ngược lại sự phát triển kinh tế – khi ấy thì hiện nay ở mỗi dân tộc lớn, nó sẽ tan vỡ sau một khoảng thời gian nhất định, hoặc là nó có thể cản trở sự phát triển kinh tế ở những hướng nào đó và thúc đẩy sự phát triển ở những hướng khác. Trường hợp này rốt cuộc kéo theo một trong hai trường hợp trên. tuy nhiên, rõ ràng là trong trường hợp thứ hai và thứ ba, quyền lực chính trị có khả năng gây tác hại rất lớn cho phát triển kinh tế và có thể gây ra ra sự lãng phí to lớn về sức lực vật chất”(21).

2. Việc tìm hiểu và nhận thức sâu sắc, có hệ thống những quan niệm của triết học Mác – Lênin về ý thức xã hội có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng ý thức xã hội mới Việt Nam Hiện tại

Theo quan điểm mácxít, về bản chất, ý thức xã hội là sự phản ánh và do tồn tại xã hội quyết liệt, do đó, để xây dựng ý thức xã hội mới Việt Nam, trước hết cần phải tiếp tục đẩy mạnh quy trình CNH, Hđại học, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. quy trình CNH, Hđại học chính là nhằm tạo nền tảng vật chất cho sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội mới. Ở nước ta, sự tồn tại của xã hội nông nghiệp cổ truyền theo phương thức sản xuất châu Á đã kéo dài hàng nghìn năm. Đó là nền sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc được tiến hành theo kinh nghiệm; công cụ thủ công, thô sơ, lạc hậu; có tính chất phân tán, khép kín… Nền sản xuất với những đặc điểm như vậy đã trở thành cơ sở quan trọng nhất để hình thành nên những quan điểm, tư tưởng, tập tính, phong tục… của con người Việt Nam. Vì vậy, muốn xây dựng ý thức xã hội mới thì nhiệm vụ quan trọng có tính nền tảng là cần phải xóa bỏ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu. Ngay từ Đại hội III (năm 1960), Đảng ta đã khẳng định, muốn đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu cần phải tiến hành quá trình công nghiệp hóa. CNH, Hđại học là quá trình thay đổi ngay căn bản phương thức sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để đạt năng suất lao động xã hội cao, và kết quả của nó là sự chuyển đổi nền kinh tế sản xuất nhỏ, lạc hậu thành nền sản xuất lớn, công nghiệp hiện đại. 

Trong khó khăn hiện nay, cùng với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng ta nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư…”(22). quy trình này tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật làm thay đổi ngay những khó khăn kinh tế cũng như tạo ra cơ sở và môi trường xã hội để thay đổi ngay tư duy, nếp nghĩ, thay đổi ngay tập tính, lối sống… của từng cá nhân và cả cộng đồng xã hội. Đồng thời, chủ thể của quy trình CNH, HĐH chính là con người. Cho nên, khi tham gia vào quy trình CNH, Hđại học, thực tiễn của quá trình này đòi hỏi những con người đó buộc phải thay đổi, phải từ bỏ những tư tưởng, thói quen, nếp nghĩ, tập quán… cũ, không còn phù hợp để hình thành nên những tư tưởng, quan điểm, lối sống… mới, đáp ứng được bắt buộc của đời sống kinh tế – xã hội hiện nay.

Thứ hai, cần coi trọng việc đấu tranh ngăn ngừa, khắc phục tàn dư tư tưởng, phong tục, tập quán lạc hậu. Quan điểm triết học Mác – Lênin đã chỉ rõ, sự lạc hậu trong quy trình phát triển của ý thức xã hội là điều không tránh khỏi. Ở nước ta Hiện tại, sự tồn tại của những tư tưởng, phong tục, tập quán lạc hậu vẫn còn khá thường nhật, với những biểu hiện như trọng nam khinh nữ, gia trưởng…; là sự tồn tại của tâm lý tiểu nông với biểu hiện rất đa dạng như thói tự do, tùy thuận tiện, tâm lý “ăn xổi, ở thì”, thiếu nhìn xa, trông rộng…; của tâm lý làng xã, biểu hiện ở thói cục bộ địa phương cũng như những tư tưởng, thói quen, tập quán tiêu cực được hình thành trong thời kỳ tập trung bao cấp… Những tư tưởng, phong tục, tập quán lạc hậu này vẫn đang tác động tới cuộc sống xã hội. Do vậy, một trong số những nhiệm vụ quan trọng của việc xây dựng cuộc sống tinh thần nói chung và ý thức xã hội mới nói riêng Hiện tại ở nước ta là tiến hành đấu tranh hạn chế và khắc phục các loại hình tư tưởng, phong tục, tập quán cũ, lạc hậu đó. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, tập tính, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm… chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”(23). mặc khác, do những tư tưởng, phong tục, tập quán này đã tồn tại lâu dài, đã len lỏi vào những khía cạnh sâu xa trong đời sống xã hội tương đương ở mỗi con người nên quy trình khắc phục những biểu hiện tiêu cực không hề đơn giản mà là cả một quá trình điều kiện, dài lâu. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) cũng xác định: “Từng bước Giảm, tiến tới xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu”(24) chứ không thể nhanh chóng xóa bỏ ngay được các hủ tục, tập quán đó. 

Mọi Người Xem :   Giá thị trường là gì?

Thứ ba, phải chú ý kế thừa và phát huy các tổng giá trị truyền thống của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại. Nhận thức sâu sắc quan điểm mácxít về tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội, trong quá trình lãnh đạo xây dựng nền văn hóa nói chung, ý thức xã hội nói riêng, Đảng ta đã luôn chú ý kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống. Từ Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943), Đảng đã khẳng định, nền văn hóa mới là nền văn hóa phải bảo đảm tính dân tộc, tức là phải kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc. Quan vị trí này tiếp tục được khẳng định trong suốt quá trình tiến hành xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. 

Trong bối cảnh Hiện tại, dưới ảnh hưởng của quy trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là toàn cầu hóa, Đảng ta khẳng định, phải đặc biệt quan tâm “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam”(25). Muốn hoàn thành tốt công việc này, chúng ta cần phải biết phân biệt những giá trị tích cực và những yếu tố lạc hậu, không còn phù hợp của truyền thống, của quá khứ; phải biết cải biến, chuyển hóa các yếu tố tích cực cũ để phù hợp với điều kiện tồn tại mới… Hơn nữa, quá trình kế thừa trong xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta Hiện tại không đơn thuần chỉ là kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc mà đòi hỏi cần kế thừa, tiếp thu các tổng giá trị tinh thần của thế giới làm để làm đa dạng thêm văn hóa dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ, cần “Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(26). Điều này không chỉ đáp ứng mong muốn phát triển cuộc sống tinh thần xã hội mà còn phục vụ nhu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Hiện tại. 

Thứ tư, chú ý phát huy vai trò của ý thức xã hội mới Việt Nam Hiện tại.

Triết học Mác – Lênin khẳng định, ý thức xã hội có khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ trở lại sự phát triển của tồn tại xã hội. Vì vậy, trong quy trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, việc phát huy vai trò của ý thức xã hội mới có ý nghĩa rất quan trọng. Phát huy vai trò của ý thức xã hội mới hiện nay là tổng hợp những biện pháp, hình thức làm cho ý thức xã hội mới được ăn sâu, bám rễ, thẩm thấu vào cuộc sống tinh thần, tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân. Với hạt nhân tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, có khả năng nói, ý thức xã hội mới đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hoạch định tư tưởng, văn hóa xã hội; góp phần xây dựng đạo đức, lối sống mới, tiến bộ cho nhân dân trong bối cảnh sự suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Hiện tại đang có những diễn biến nghiêm trọng; góp phần đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch đang chống phá Đảng và Nhà nước, công kích, xuyên tạc nhằm bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tóm lại, trong hệ thống lý luận của triết học Mác – Lênin, vấn đề ý thức xã hội là một nội dung quan trọng góp phần tạo cơ sở lý luận cho quan điểm duy vật về lịch sử, và cùng với học thuyết tổng giá trị thặng dư, đã trở thành hai phát kiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác. Nhận thức sâu sắc những vấn đề lý luận về ý thức xã hội của triết học Mác và vận dụng hợp lý chúng trong xây dựng ý thức xã hội mới nói riêng và cuộc sống tinh thần nói chung sẽ góp phần thiết thực vào thành công của công cuộc xây dựng đất nước theo hoạch định XHCN.

__________________

(1), (2), (3), (7), (8) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.37, 37, 29, 27, 45.

(4), (5), (6) V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.400, 400, 400.

(9) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.145.

(10), (17), (18) V.I.Lênin: Toàn tập, t.41, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.474, 361, 362.

(11) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập,t.1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.589-590.

(12) V.I.Lênin: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.30.

(13), (14), (20), (21) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.682, 681-682, 680, 678.

(15), (19) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.39, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.133, 271.

(16) V.I.Lênin: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.49-50.

(22), (24) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.104, 135.

(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.92.

(25), (26) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu khắp cả nước lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.143, 147.

TS TRẦN SỸ DƯƠNG

Viện Triết học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

  • Phát động Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ 2, năm 2022
  • Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cải thiện tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế trong tình hình Hiện tại
  • Phê phán luận điệu “Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần tất yếu phải thực hiện đa nguyên, đa đảng”
  • Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội ở Việt Nam
  • nâng cao tiềm lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu tình hình mới
  • Học thuyết lợi nhuận của C.Mác vẫn giữ nguyên tổng giá trị khoa học, cách mạng và tính thời đại
  • nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động cho công nhân theo quan điểm Hồ Chí Minh
  • Thực trạng thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
  • Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng – Những vấn đề lý luận
  • Xây dựng các đơn vị báo chí Học viện phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới


Các câu hỏi về ý thức lý luận là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê ý thức lý luận là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết ý thức lý luận là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết ý thức lý luận là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết ý thức lý luận là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về ý thức lý luận là gì


Các hình ảnh về ý thức lý luận là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tham khảo tin tức về ý thức lý luận là gì tại WikiPedia

Bạn hãy xem thêm thông tin chi tiết về ý thức lý luận là gì từ trang Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

Related Posts

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng. 1

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng.

ContentsĐánh giá về Quan điểm của triết học MácCác câu hỏi về ý thức lý luận là gìCác Hình Ảnh Về ý thức lý luận là gìTham…
Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống 2

Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về Quan điểm của triết học MácCác câu hỏi về ý thức lý luận là gìCác Hình Ảnh Về ý thức lý luận là gìTham…
Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống 3

Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về Quan điểm của triết học MácCác câu hỏi về ý thức lý luận là gìCác Hình Ảnh Về ý thức lý luận là gìTham…
CH3Cl - metyl clorua - Chất hoá học 4

CH3Cl – metyl clorua – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về Quan điểm của triết học MácCác câu hỏi về ý thức lý luận là gìCác Hình Ảnh Về ý thức lý luận là gìTham…
I2 - Iot - Chất hoá học 5

I2 – Iot – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về Quan điểm của triết học MácCác câu hỏi về ý thức lý luận là gìCác Hình Ảnh Về ý thức lý luận là gìTham…
7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt 6

7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt

ContentsĐánh giá về Quan điểm của triết học MácCác câu hỏi về ý thức lý luận là gìCác Hình Ảnh Về ý thức lý luận là gìTham…