13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh Đạo

Bài viết 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh Đạo thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://buyer.com.vn/hoi-dap/ tìm hiểu 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh Đạo trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem chủ đề về : “13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh Đạo”

Đánh giá về 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh Đạo


Xem nhanh
Lời Dạy Của Đức Phật -Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh Đạo
† Qúy Đạo hữu Hãy đăng ký kênh https://goo.gl/gnkiQh
https://is.gd/SruPjZ
Để Xem Thêm Nhiều Truyện Phật giáo Hay Khác
† Hại Người Thành Hại Mình https://is.gd/V8Sl24
† Mê Tín Cuồng Tín Trong Các Chùa https://is.gd/FGI3sZ
† Nhân Quã 3 Đời https://is.gd/2QtlJJ
† Phật Ở Trong Tâm https://goo.gl/xQ6ufw
† Đời Là Vô Thường https://goo.gl/rdmn48

Tìm Hiểu Kinh Pháp Cú (Dhammapada)

  • 1. Lời Nói Đầu
  • 2. Nguồn Gốc Kinh Pháp Cú
  • 3. Vô Thường Và Vô Ngã
  • 4. Nhân Quả Và Nghiệp Báo
  • 5. Luân Hồi
  • 6. Tam Độc: Tham, Sân, Si
  • 7. Ái Dục
  • 8. Giới, Định, Tuệ
  • 9. Người Ngu Và Người Trí
  • 10. Tam Quy Và Ngũ Giới
  • 11. Thập Thiện
  • 12. Lục Độ Ba La Mật
  • 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh Đạo
  • 14. Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả
  • 15. Mầu Áo Cà Sa
  • 16. Hương Vị Giải Thoát
  • 17. Nghệ Thuật Thuyết Pháp
  • 18. Đạo Phật Là Đạo Yêu Đời
  • 19. Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi
  • 20. Tài Liệu Tham Khảo

TÌM HIỂU KINH PHÁP CÚ (DHAMMAPADA) Tâm Minh Ngô Tằng GiaoDiệu Phương Xuất Bản – 2006

TỨ DIỆU ĐẾ VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

 Truyện tích kể rằng sau khi đi một vòng châu du hoằng Pháp ở các làng mạc, Đức Phật trở về tịnh xá, và giữa chúng Tăng có cuộc thảo luận về trạng thái gồ ghề hay bằng phẳng của các con đường đã trải qua. Đức Phật nói rằng thảo luận về các con đường ấy không thích hợp cho sự giải thoát, đó chỉ là những đoạn đường ở bên ngoài thân tâm. Ngài khuyên chư Tăng nên lưu tâm đến con đường cao thượng là “Bát Chánh Đạo” thuộc giáo lý “Tứ Diệu Đế” và những việc cần phải làm khác để sớm đắc được đạo quả. Những giáo lý căn bản của Đạo Phật đưọc tóm tắt như sau đây:

 (Pháp Cú 273)Con đường cao thượng hàng đầuLà “Bát Chánh Đạo” nhiệm mầu biết bao,Bốn điều chân lý tối caoLà “Tứ Diệu Đế” dễ nào sánh ngang,Không còn luyến ái vấn vươngLà điều cao thượng thơm hương Niết Bàn,Trong loài động vật hai chânThì Đấng Toàn Giác vô ngần tối cao.

 Người Phật tử tu học để muốn vĩnh viễn yên vui ở ngoài vòng sinh tử của thế gian. Muốn đạt được kết quả đó trước hết người Phật tử phải thấu hiểu tình trạng đời người, biết rõ căn bệnh của thế gian ra sao, để rồi tìm thuốc trị bệnh. Đức Phật khi dạy chúng sinh tìm quy y Phật, Pháp, Tăng là nhắm giúp chúng sinh mở mang trí tuệ và cùng lúc ấy hiểu rõ được bốn chân lý mầu nhiệm mà thoát khổ. Bốn chân lý đó gọi là “Tứ Diệu Đế”:

(Pháp Cú 190 – 191)Nếu quy y Phật, Pháp, TăngRiêng phần trí tuệ vinh thăng nhiệm mầuHiểu ra Tứ Đế thâm sâu:Biết rằng trần thế khổ đau là gì,Hiểu ra nguồn gốc khổ kia,Biết đường diệt hết khổ đi là rồiBiết Bát Chánh Đạo tuyệt vờiTám đường chân chính con người nên theo.

 Đức Phật giảng “Tứ Diệu Đế” để giải rõ tình trạng đời người và dạy phương pháp thay đổi tình trạng đó. “Tứ” là bốn; “Diệu” là huyền diệu, mầu nhiệm, cao quý; “Đế”, là sự thật, là chân lý. Tứ Diệu Đế là bốn chân lý mầu nhiệm. Đó là: khổ (Khổ Đế); nguồn gốc của khổ (Tập Đế); sự diệt khổ (Diệt Đế) và con đường dẫn đến sự diệt khổ (Đạo Đế). 

 Khổ phải được thông suốt, hiểu biết. Nguồn gốc của khổ, nguyên nhân gây ra ra khổ (tức ái dục) phải được tận diệt. Sự diệt khổ (tức Niết Bàn) phải được chứng ngộ. Con đường kéo theo sự diệt khổ (tức Bát Chánh Đạo) phải được phát triển. Dầu chư Phật có giáng sinh hay không, bốn Chân Lý ấy vẫn có trên thế gian. Chư Phật chỉ khám phá ra và vạch rõ cho nhân loại thấy bốn chân lý mầu nhiệm này mà thôi.

 1. Khổ đế: Sự thật đầu tiên về tình trạng đời sống của chúng sinh trong thế gian là đau khổ, một thực trạng mà con người cảm nhận từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà không được là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ”. Như vậy, “khổ” có khả năng chia làm 3 phương diện:

Về phương diện sinh lý: khổ là một cảm giác khó chịu, đau đớn của thể xác như khi bị một gai nhọn đâm buốt bàn chân hay một hạt cát vào trong mắt… Con người nảy sinh đã vất vả khốn đốn, lớn lên già yếu, bệnh tật khốn khổ vô cùng và cuối cùng là cái chết, là sự tan rã của thể xác.

 Về phương diện tâm lý: khổ là do không toại ý, không vừa lòng v.v… Những mất mát, thua thiệt trong cuộc đời làm mình khổ. Người mình thương muốn gần mà không được, người mình ghét mà cứ phải gặp gỡ hoài. Muốn tiền tài, danh vọng, vị thế xã hội nhưng nó cứ vụt qua ngoài tầm tay mình v.v…

Mọi Người Xem :   Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

 Về sự chấp thủ năm uẩn: Cái khổ thứ ba này bao hàm hai cái khổ trên, như trong kinh đã dạy: “Chấp thủ năm uẩn là khổ”. Năm uẩn hay “ngũ uẩn” là năm yếu tố nương tựa vào nhéu để tạo thành con người, gồm có: thân thể vật lý là sắc và cấu trúc tâm lý là thọ, tưởng, hành và thức. Gọi chung lại là “ sắc, thọ, tưởng, hành, thức”. Nói một cách tổng quát, khi ta bám víu vào năm yếu tố trên, coi đó là “ta”, là “của ta”, là tự ngã của ta, thì khổ đau có mặt. Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng đều đặn gắn liền với ý niệm về “cái ta” ấy. 

 Phật giáo không phủ nhận rằng trong đời người cũng có lúc vui vẻ sung sướng vì thân tâm được thỏa mãn trong những điều nhu cầu. Những hạnh phúc ấy là quả tốt của những nghiệp lành đã tạo ra trong kiếp trước hay kiếp này. Đức Phật không dạy rằng con người phải tránh những hạnh phúc ấy. nhớ đừng nên hiểu lầm là Ngài có ý phủ nhận tình cảm của con người để theo đuổi một vài lý tưởng tinh thần cao thượng. Điều mà Đức Phật muốn nhắc nhở chúng ta không phải là bảo ta dẹp bỏ hoàn toàn tình cảm lành mạnh của con người, mà chỉ có ý nhắc chúng ta nhớ đừng nên chú tâm quyến luyến và gắn bó vào những thú vui vật chất. đừng say đắm mê mờ trong những hạnh phúc trên. Đức Phật nói cái vui đó là cái vui mong manh trong đau khổ, cái vui còn vướng trong vô minh nghiệp chướng đưa đến khổ đau càng sâu dày thêm.

“Bể khổ mênh mông nước ngập trời Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi,Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió, Ngẫm lại cùng trong bể khổ thôi!”.

 Một nhà thơ đã cảm hứng mà viết như trên. Ngược gió hay xuôi gió, chiếc thuyền cũng ở trong biển mà thôi, không thể vượt lên trên biển được. Mà cái biển đó là biển khổ. Cho nên cái vui của con người trong cảnh trầm luân này là cái vui trong đau khổ của thế gian, chưa phải là cái vui giải thoát. Do thế, Đức Phật nói đời là bể khổ, mặc dù chúng sinh cho đời là vui, rồi say đắm theo đời, không giờ phút nào rời khỏi, cho đến một ngày nào đó phải nhắm mắt tắt thở, bấy giờ mới hoảng hốt, khổ đau.

 Điều làm trở ngại quan trọng nhất cho việc phát triển tâm linh không phải là những vật, những việc, hay những ngoại cảnh có sức tạo niềm khoái lạc và thích thú; mà chính là cái tâm ý thiết tha gắn bó, nhớ tưởng đến những vật hay những việc ấy, theo lòng nhu cầu ích kỷ của con người. Theo Phật Giáo chính trạng thái tinh thần khi đối đầu với ngoại cảnh mới là điều quan trọng.

 Một hoàng tử xuất gia và rút vào rừng, hành thiền một mình. Về đêm, ông nghe văng vẳng tiếng đàn hát từ thành vọng đến và lấy làm bất mãn với lối sống đơn độc giữa rừng sâu. Một vị thần trên cây khuyến khích ông nên cố gắng tìm thích thú trong đời sống cô đơn. Về sau, thầy Tỳ kheo bất mãn ấy trở về bạch lại tự sự với Đức Phật. Đức Phật giảng cho thầy về tính cách điều kiện của kiếp sống ở thế gian:

(Pháp Cú 302)Khó thay diệt ái dục rồiĐể mà vui sống cuộc đời xuất gia,Khó thay đời sống tại nhàTrần gian sinh hoạt thật là thương đau,Khổ thay phải sống gần nhauKhi không ý hợp tâm đầu êm xuôi,Khổ thay cứ mãi nổi trôitrong vòng sinh tử luân hồi quẩn quanh,Vậy lo vượt thoát cho nhanhKhổ đau nơi ấy, tử sinh chốn này.

 Đức Phật giảng cho ta trông thấy cuộc đời sâu hơn, xa hơn, đúng với sự thật hơn. Trông sâu hơn và xa hơn, vì những sung sướng trong thế gian không vững bền, không vĩnh viễn. Khi nó mất thì chúng ta buồn đau. Mà ngay khi còn, nó cũng gây ra cho chúng ta biết bao bận rộn, lo nghĩ, ghét ghen, thù oán… Trông đúng với sự thật hơn, vì trong khi ta đang say đắm trong hạnh phúc, nếu ta không biết tu tập để giữ gìn và làm tăng trưởng nhân duyên lành đã phát sinh hạnh phúc thì hạnh phúc đã bắt đầu suy giảm theo luật “vô thường” rồi. Đau khổ đã dần dần đến thay thế cho sung sướng rồi. Bởi vậy tình trạng chung và đúng sự thật của thế gian là đau khổ. Ấy là một “lẽ thật” chắc chắn, hiển nhiên. 

 Một chàng thanh niên được cha mẹ hết lòng thương yêu. Chàng xuất gia làm Tỳ kheo mà không được cha mẹ ưng thuận trước. Về sau, cha mẹ thầy cũng lần lượt theo nhéu xuất gia. tuy nhiên chàng và cha mẹ không sống rời nhau và không dứt tình phụ mẫu, cứ mãi khăng khít quây quần bên nhéu, sống chung với nhéu trong một ngôi chùa và cùng đi khất thực. Các vị Tỳ kheo khác cảm thấy khó chịu nên đến bạch với Đức Phật. Nghe câu chuyện, Đức Phật dạy rằng thương hay ghét đều đặn tạo khổ:

 (Pháp Cú 210)Chớ kề cận kẻ yêu thương,Chớ gần gũi kẻ mình thường chẳng ưa,Ở đời khổ mấy cho vừaKhi yêu không gặp, khi ưa chẳng kềCũng đau cũng đớn kể chiGhét này phải gặp, oán kia phải kề.

 Đức Phật cũng dạy thêm rằng nhớ đừng nên say mê luyến ái vì khi xa lìa hay mất đi điều mình luyến ái thời mình sẽ cảm thấy đau khổ. Sự say mê luyến ái dễ bị ràng buộc:

(Pháp Cú 211)Đừng yêu đến độ say mêKẻo khi ly biệt não nề héo honNếu mà yêu ghét không cònChẳng chi ràng buộc, tâm hồn thảnh thơi. 

Mọi Người Xem :   2m Trong Hóa Học Là Gì - Cẩm nang Hải Phòng

 2. Tập đế: là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ. “Tập” là tích tập, các phiền não chồng chất tụ hội tạo thành tiềm lực đưa đến khổ đau. Khi nhận thức được bản chất của khổ một cách rõ ràng, ta mới có khả năng đi vào con đường đoạn tận khổ đau.

 Cuộc đời là khổ đau hay không đều tùy thuộc vào thái độ tâm lý, cảm thọ và nhận thức của mỗi người; tác nhân của khổ có nguồn gốc sâu xa trong tâm tưởng của con người. Phật Giáo cũng nhìn thấy các nguyên nhân của đau khổ; có cái sinh ra từ vật chất hay hoàn cảnh xã hội, nhưng nguyên nhân thật sự vẫn là tâm thức.

 nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái. Sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến khổ đau, bởi vì lòng khao khát ấy không bao giờ thỏa mãn. Đức Phật dạy “Tham ái sinh sầu ưu, tham ái sinh sợ hãi. Ai giải thoát tham ái thời không còn sầu ưu sợ hãi nữa”: 

(Pháp Cú 216)Khởi từ tham ái nảy sinhSinh lo, sinh sợ khó mà tránh điKhi mà tham ái xa lìaChẳng còn lo sợ chút gì nữa đâu.

 nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhéu mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Do không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú. Do không thấy rõ mới lầm tưởng rằng “cái ta” là quan trọng nhất, là cái có thực cần phải bám víu, củng cố và thỏa mãn nhu cầu của nó. Do vô minh mà có chấp thủ “cái ta” và “cái của ta”. Do những chấp thủ ấy mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời. Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình, do cái nhìn của mỗi người đối với cuộc đời. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc.

 3. Diệt đế: “Diệt” là chấm dứt, là dập tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt phiền não, nguyên nhân đưa đến đau khổ. Khi phá trừ hết những phiền não rồi thì con người được tự do hoàn toàn, yên vui, sáng suốt và không còn những nhân để tạo ra luân hồi nữa. Con người đã giải thoát khỏi sinh tử và đạt tới Niết Bàn.

 Đạo Phật xác nhận cuộc đời đầy dẫy những đau khổ, chúng ta thường được nghe nói rằng “đời là bể khổ”. Tuy thế Đạo Phật cùng lúc ấy cũng xác định có một sự thật khác nữa là an lạc, hạnh phúc. do đó mà có sự tu tập để đạt được hạnh phúc. Hạnh phúc này hoặc tương đối hoặc tuyệt đối. 

 Hạnh phúc tương đối: Khi ta làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ thời tâm trí không còn bị đun nóng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng, sợ hãi nữa. Tâm ý của ta trầm tĩnh và sáng suốt hơn, có khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc và chính xác hơn. Thân tâm ta được chuyển hóa, thái độ ứng xử của ta đối với mọi người độ lượng, bao dung và khiêm tốn; đối với của cải, của cải/tài sản, danh vọng trở nên thanh thản hơn, không còn bị áp lực của nó đè nặng lên trái tim mình. Trên cơ sở ấy, ta hưởng thụ đời sống có phẩm chất hơn. Tóm lại, tùy vào khả năng Giảm thiểu lòng tham, sân và vô minh đến mức độ nào thì cuộc sống của ta sẽ được tăng phần hạnh phúc lên mức độ ấy.

 Nếu ta phát triển hạnh phúc tinh thần cao hơn bằng cách tu tập thiền định thì ta sẽ có sự an lạc tuyệt vời. Đức Phật dạy: “Có người có thể không bị bệnh về thể xác trong một năm hay có khả năng đến cả trăm năm, nhưng thật hiếm có người không bị bệnh về tinh thần, dù chỉ trong một phút”. Những tâm lý được coi là bệnh của tinh thần là tham lam (tnhu cầu chạy theo nhục dục ngũ trần “sắc, thanh, hương, vị, xúc”), sân hận (oán ghét, bất toại nguyện), hôn trầm dã dượi (uể oải trong tâm, không tinh tấn, kiên trì), dao động và hối hận (lo âu vì những hành động bất thiện), hoài nghi và do dự (tâm bất định). Khi những loại tâm lý này có mặt, nó sẽ trói buộc và ngăn che tâm trí của ta; loại trừ chúng đi thì tinh thần sẽ sáng tỏ thanh tịnh và an lạc như mặt trăng thoát khỏi đám mây che. Các trạng thái hạnh phúc tinh thần này được gọi là “Tứ thiền”.

 Hạnh phúc tuyệt đối: Trên nền tảng hạnh phúc tinh thần, ta phát triển tuệ quán, hướng tâm đến đoạn trừ toàn bộ phiền não vi tế, thâm sâu, ta có khả năng đạt hạnh phúc tuyệt đối, tối thượng là Niết Bàn. Diệt đế chính là Niết Bàn. Niết Bàn là sự thanh tịnh, là hạnh phúc tuyệt đối. Đức Phật dạy:

(Pháp Cú 204)Ai không bệnh, lợi nhất đờiAi mà biết đủ là người giàu sangAi thành tín là bạn vàngVà nơi cực lạc: Niết Bàn là đây.

 4. Đạo đế: “Đạo” là con đường, là cách thực hiện dẫn đến chấm dứt khổ đau. Đức Phật dạy cho chúng sinh một con đường chắc chắn để đi đến Niết Bàn. Như vậy, toàn bộ giáo lý mà Đức Phật đã dạy đều là Đạo đế. Con đường ấy gọi là Bát Chánh Đạo (Tám thánh đạo) được coi là tiêu biểu và căn bản nhất của Đạo đế. 

Mọi Người Xem :   Mua bán sỉ & lẻ Cây Rau Cải Trời khô giá từ 65.000đ/kg chuyên sỉ và lẻ uy tín tại Tp.hcm (Sài Gòn), Cây cải trời chữa bệnh gì? Cây cải trời có tác dụng gì? Công dụng và cách dùng Cây Cải trời.

(Pháp Cú 274)Con đường duy nhất dẫn vàoĐâu còn tìm được đường nào khác hơnKhiến cho thanh tịnh nhãn quan,Các ngươi theo đúng lối vàng nói trênMa vương mê loạn ngay liềnChẳng còn dục vọng gây ra phiền cho ngươi. 

 Bát Chánh Đạo là con đường “Trung Đạo” mà Đức Phật đã tìm ra để chứng ngộ Niết Bàn. Con đường gồm có tám điều chân chính, tám phương tiện mầu nhiệm mà người Phật tử phải làm: “Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định”. Đó là con đường giác ngộ duy nhứt. Đứng về mặt triết học, tám yếu tố ấy là tám trạng thái tinh thần (hay tâm sở) nằm trong tám loại tâm siêu thế có đối tượng là Niết Bàn.

 – Chánh kiến: là sự thấy, hiểu biết chân chánh hay nhận thức đúng, rõ ràng như thật. Nhận thức đúng về đạo đức của đời sống, cái nào là thiện, cái nào là ác. Nhận biết về bản chất của sự vật đúng với sự thật, hợp với lẽ phải.

 – Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn, chân chánh và xét đoán sáng suốt, đúng với chân lý, không mê lầm. Do sự hiểu biết, cái nhìn chân chánh mà sự suy niệm hay ý nghĩ đúng đắn sinh ra.

 – Chánh ngữ: Ngôn ngữ đúng đắn, nghĩa là không nói những lời vọng ngữ, ác khẩu, hai lưỡi đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung bạo, căm thù. Nói những lời lẽ chân thật, êm ái, chính đáng, hiền hòa đưa đến xây dựng niềm tin, đoàn kết hòa hợp, thương yêu và lợi ích, những lời hợp với Chân, Thiện, Mỹ. Lại còn đem phương tiện mà giáo hóa người.- Chánh nghiệp: Hành vi đúng đắn, làm việc chân chánh có mục đích lành mạnh, vừa lợi ích cho mình, vừa lợi ích cho người và vật khác. 

 – Chánh mạng: Đời sống đúng đắn, trong sạch nghĩa là phương tiện mưu sinh, nghề nghiệp chân chánh, không sống bằng những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo dễ gây ra ác nghiệp.

 – Chánh tinh tấn: Nỗ lực đúng đắn, siêng năng chuyên cần, cố gắng hết sức bằng tất cả nghị lực bản thân để đoạn trừ điều ác, thực hành điều thiện. Diệt trừ phiền não và tạo dựng đức lành.

 – Chánh niệm: Nhớ nghĩ đúng đắn, tưởng nhớ chân chánh. Nhớ những việc chân chánh đã làm, quán tưởng những việc chân chánh hiện nay và sẽ làm, để suy nghĩ và hành động cho hợp với lẽ phải, để diệt trừ những ý tưởng sai quấy và phòng ngừa những việc làm sai lầm. 

 – Chánh định: Tập trung tư tưởng đúng đắn, định tâm chân chánh, nghĩa là đừng để tâm thức bị rối loạn, tập trung tư tưởng làm an tịnh tâm thức một cách đúng đắn, có hiệu quả phát triển tuệ giác.

 Theo Đức Phật thời “Bát Chánh Đạo” là con đường duy nhất để chấm dứt mọi đau khổ:

(Pháp Cú 275)Thuận tu theo chánh đạo rồiBao nhiêu khổ não tức thời tiêu tan,Sau khi chứng ngộ đạo vàngBiết phương cách diệt vô vàn chông gaiDiệt bao chướng ngại hại ngườiTa nay truyền dạy các ngươi con đường.

 Giáo lý “Tứ Diệu Đế” vừa là phương thuận tiện, vừa là cứu cánh. Một giáo lý hoàn chỉnh đầy tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con người, xã hội. Đặc tính của giáo lý “Tứ Diệu Đế” là con đường Trung Đạo, không rơi vào cực đoan hưởng thụ dục lạc hay khổ hạnh ép xác. Giáo lý “Tứ Diệu Đế” bao hàm tất cả các giáo pháp mà Đức Phật đã dạy, có khả năng thực hành cho người xuất gia cũng như tại gia, ai cũng tu tập được, ai cũng có khả năng nếm hương vị giải thoát, đáp ứng được mong muốn thoát khổ cho cá nhân và chuyển hóa xã hội.

 Đức Phật dạy rằng chẳng phải vì bện tóc, chẳng phải vì gia tộc, cũng chẳng phải tại nơi sinh trong một giai cấp nào mà trở thành Bà La Môn. Nhưng ai hiểu biết chân thật “Tứ Diệu Đế”, thông đạt chánh pháp, đó là kẻ Bà La Môn:

(Pháp Cú 393)Mệnh danh là Bà La MônNào vì bện tóc ở luôn trên đầuNào vì chủng tộc mình đâuCũng không vì đã dựa vào nơi sinh,Riêng ai hiểu biết thật tình“Bốn điều Chân Lý” tâm thành nhận raTinh thông “Chánh Pháp” Phật ĐàVà luôn thanh tịnh, là Bà La Môn

 Nhân có hai người cãi nhau vì ai cũng cho là con bò của mình mạnh hơn. Để tranh hơn thua, hai người chất cát và đá đầy xe rồi bắt bò kéo. Xe không nhúc nhích mà dây thừng đều đứt. Các vị Tỳ kheo nhìn thấy về bạch lại với Đức Phật. Đức Phật khuyên các thầy nên tận diệt những dây thừng của tâm mình để trở thành người đã giác ngộ. Người giác ngộ là người thấu triệt “Tứ Diệu Đế”: 

(Pháp Cú 398)Bỏ đai da sân hận điBỏ cương luyến ái chớ hề vấn vươngBỏ dây tà kiến lầm đườngBỏ đồ phụ thuộc buộc ràng quẩn quanhBỏ đi cây trục vô minh“Bốn điều Chân Lý” thật tình hiểu raCon người giác ngộ tiến xaXứng danh tên gọi là Bà La Môn.

 Bà La Môn trong hai câu Pháp Cú 393 và 398 trên đây là tiếng chỉ chung người đạo hạnh thanh tịnh chứ không theo nghĩa thông thường để chỉ giai cấp đạo sĩ Bà La Môn.

Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM


Các câu hỏi về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì


Các hình ảnh về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu thêm thông tin về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì tại WikiPedia

Bạn có thể tra cứu thêm thông tin chi tiết về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gì từ web Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

Related Posts

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng. 1

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng.

ContentsĐánh giá về 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh ĐạoCác câu hỏi về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gìCác Hình Ảnh Về tứ…
Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống 2

Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh ĐạoCác câu hỏi về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gìCác Hình Ảnh Về tứ…
Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống 3

Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh ĐạoCác câu hỏi về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gìCác Hình Ảnh Về tứ…
CH3Cl - metyl clorua - Chất hoá học 4

CH3Cl – metyl clorua – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh ĐạoCác câu hỏi về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gìCác Hình Ảnh Về tứ…
I2 - Iot - Chất hoá học 5

I2 – Iot – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh ĐạoCác câu hỏi về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gìCác Hình Ảnh Về tứ…
7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt 6

7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt

ContentsĐánh giá về 13. Tứ Diệu Đế Và Bát Chánh ĐạoCác câu hỏi về tứ diệu đế và bát chánh đạo là gìCác Hình Ảnh Về tứ…