Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ Hãi

Bài viết Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ Hãi thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer tìm hiểu Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ Hãi trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung về : “Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ Hãi”

Đánh giá về Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ Hãi


Xem nhanh
THƯ VIỆN PHẬT HỌC
Quý vị hãy nhấn nút Đăng Ký để theo dõi các video mới nhất từ chúng tôi nhé : https://www.youtube.com/channel/UCfVhiKkhmaAlGxxLfFf_3Sw?sub_confirmation=1

Kênh tổng hợp các video về Phật Giáo Việt Nam , các bài thuyết giảng của chư Tôn đức giảng sư và các mạnh thường quân Phật tử . Hy vọng Phật Pháp màu nhiệm sẽ hướng đường đạo , sống đường đời tránh tội lỗi.


Kho sách THƯ VIỆN PHẬT HỌC ( Hơn 1500 cuốn ebook )
Với gần 1000 cuốn Kinh Phật và hơn 500 cuốn Phật học và đời sống , đây là kho tài liệu quý báu giúp các Phật tử trên con đường tu tập . Quý vị có thể tải sách miễn phí tại một trong hai đường dẫn dưới đây :
- Link Google Drive : https://goo.gl/WCf6MH
- Linh Mediafire : https://www.mediafire.com/folder/sip503ty6mfnj/Kho_sach_Thu_vien_Phat_hoc


Kho sách THƯ VIỆN SỨC KHỎE ( Hơn 500 cuốn ebook và phần mềm )
Kho sách tổng hợp kiến thức y học , cách chữa và phòng bệnh hiệu quả . Quý vị có thể tải sách miễn phí tại đường dẫn dưới đây :
- Link Mediafire : https://www.mediafire.com/folder/jfdzusmzb1nmk/Kho_sach_Thu_vien_Suc_Khoe


Chúc các bạn và quý Phật tử luôn hoan hỷ và an lạc

Long Road Ahead của Kevin MacLeod được cấp phép theo giấy phép Creative Commons Attribution (https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/)
Nguồn: http://incompetech.com/music/royalty-free/index.html?isrc=USUAN1100588
Nghệ sĩ: http://incompetech.com/

*
*

Con đường giác ngộ không phân biệt giới tính, giai cấp, màu da, chủng tộc, tu sĩ hay cư sĩ. Bất kỳ ai sống đời đạo đức và trí tuệ theo tinh thần Phật dạy, giải thoát tâm mình khỏi các thác lũ lậu hoặc, chuyển hóa cuộc sống trở nên toàn diện sẽ có khả năng chứng đạt giác ngộ ngay đời này và tại thế gian này.

Bạn đang xem: thánh nhân là gì

I. DẪN NHẬP

Lội ngược dòng với cuộc đời hay tình trạng của thế giới được gọi là “thánh” (ariyaa), trạng thái sống siêu vượt hơn các điều kiện của người phàm phu (assutavant puthujjana). Dòng họ thánh nhân trong Phật giáo nguyên thủy bao gồm những ai đã gia nhập vào gia đình của bậc giác ngộ (gotrabhuu). Tất cả những gì được đức Phật giảng dạy chỉ hướng đến sự chấm dứt của thế giới (ti.n.n loke visattikan ti),<1> sự chứng ngộ và giải thoát.

II. CÁC LOẠI THÁNH NHÂN

Thánh nhân (ariyapuggala / ariyasaavaka) được định nghĩa là người đã chuyển hóa hoàn toàn trạng thái của người phàm kẻ tục (puthujjana / anariyapuggala), đã chứng đắc được bốn con đường siêu thế (lokuttaramagga) và bốn quả siêu việt (lokuttaraphala).

Trong một phân loại phổ biến nhất của kinh điển Paali, có bốn loại thánh nhân, đó là, bậc vào dòng (Sotaapanna, dự lưu), bậc trở lại thế gian một lần (Sakadaagaamii, nhất lai), bậc không còn trở lại (Anaagaamii, bất lai) và bậc A-la-hán (Arahanta).<2> Nếu phân loại cụ thể hơn, số lượng thánh nhân lên đến bảy, tám và chín tùy theo các bản văn khác nhéu.

Gia phả bảy thánh nhân bao gồm (1) bậc giải thoát bằng hai cách (ubhatobhaagavimutta), (2) bậc giải thoát nhờ trí tuệ (pa~n~naavimutto), (3) bậc thân chứng (kaayasakkhii), (4) bậc chứng đạt chánh kiến (di.t.thippatta), (5) bậc giải thoát nhờ chánh tín (saddhaanusaarii), (6) bậc theo đuổi chân lý (dhammaanusaarii) và (7) bậc thành tín đức tin (saddhaanusaarii).<3>

Gia phả tám thánh nhân thường được gọi là bốn đôi tám chúng<4> bao gồm: (1) bậc tuệ tri con đường ngược dòng (sotaapatti-magga), (2) bậc chứng đắc quả ngược dòng (sotaapatti-phala) hay bậc dự vào dòng thánh (sotaapanna), (3) bậc tuệ tri được con đường trở lại một lần (sakadaagaami-magga), (4) bậc chứng được quả trở lại một lần (sakadaagaami-phala) cũng còn gọi là bậc trở lại một lần (sakadaagaamin), (5) bậc tuệ tri con đường không trở lại (anaagaami-magga), (6) bậc chứng được quả không trở lại (anaagaami-phala) cũng còn gọi là bậc không trở lại (anaagaamin), (7) bậc tuệ tri con đường A-la-hán (arahatta-magga), và (8) bậc chứng được quả A-la-hán (arahatta-phala) hoặc còn gọi là quả thánh nhân.<5>

Gia phả chín thánh nhân bao gồm tám bậc giác ngộ vừa nêu cộng với bậc đã gia nhập vào gia phả thánh (gotrabhuu).<6>

Mức độ diệt trừ các trói buộc của tâm (sa’myojana) được xem là tiêu chí xác định sự chứng đắc hay gia nhập vào gia phả của các bậc thánh trong Phật giáo. Có mười loại trói buộc (sa’myojanaani, kiết sử), đó là, j quan niệm sai lầm về nhân tính (sakkaaya-di.t.thi, thân kiến), k nghi hoặc (vicikicchaa), l chấp các giáo điều và nghi thức như là phương thuận tiện giải thoát (siilabbata-paraamaasa, giới cấm thủ), m khao khát khoái lạc giác quan (kaama-raaga, tham dục), hiềm hận (vyaapaada), o tham ái cảnh hiện hữu vật chất (ruupa-raaga, sắc ái), p tham ái cảnh hiện hữu phi vật chất (aruupa-raaga, vô sắc ái), q cống cao, tự phụ (maana, mạn), r không an định (uddhacca) và s vô minh (avijjaa). Năm trói buộc đầu được gọi là “các trói buộc thấp” (hạ phần kiết sử, pancamaani orambhaagiyaani sa’myojanaani),<7> trong khi năm cái sau được gọi là “các trói buộc cao” (thượng phần kiết sử, pancamaani uddhambhaagiyaani sa’myojanaani).<8>Gọi là các trói buộc thấp là vì năm cái đầu trói buộc chúng sanhvào các thế giới thấp kém, như thế giới của khoái lạc giác quan (kaama-loka).Tương tự, gọi là các trói buộc cao là vì năm cái sau trói buộc chúng sanh vào thế giới cao hơn đó là thế giới sắc thể (ruupa-loka) và thế giới vô sắc thể (aruupa-loka).<9> Trong các trói buộc này, khoái lạc giác quan (kaamacchanda), hiềm hận (vyaapaada), không an định và mê muội (uddhacca-kukkucca), nghi hoặc (vicikicchaa), cộng với hôn trầm và thuỳ miên (thiina-middha) tạo thành năm phiền não (niivara.na).<10>

Tuỳ theo mức độ toàn thiện đạo đức, có hai loại thánh nhân chính (ariyapuggala / ariyasaavaka), đó là, bậc còn phải huấn luyện tâm linh (sekha, hữu học) và bậc đã hoàn tất huấn luyện tâm linh (asekha, vô học).<11> Bậc còn huấn luyện tâm linh (sekha)là những hành giả còn phải trao dồi đạo đức, thiền định và trí tuệ, để đạt được quả A-la-hán trong khi bậc đã hoàn tất sự huấn luyện (asekha) đã đạt được mức độ toàn thiện về ba huấn luyện này (tiisu sikkhaasu sikkhitaa). Phối hợp với gia phả bốn thánh nhân, bậc còn phải huấn luyện tâm linh (sekha)bao gồm ba hạng đầu, trong khi trong gia phả tám thánh nhân, bậccòn phải huấn luyện tâm linh bao gồm bảy hạng đầu. Tương tự, bậcđã hoàn tất huấn luyện tâm (asekha) là bậc A-la-hán, bậc thánh theo đúng nghĩa, cả trong gia phả bốn thánh nhân và támthánh nhân. Đối với bậc A-la-hán, “sanh đã bị phá vỡ, đời sống thánh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong và không còn tái sanh nữa.”<12>

Do diệt trừ ba trói buộc đầu thông qua con đường của bậc dự vào dòng thánh (Sotaapatti magga), vị hành giả được gọi là bậc vào dòng thánh nhân (Sotaapanna), và sự chứng đắc của vị ấy được gọi là quả vào dòng thánh (Sotaapatti-phala).Tương tự, do diệt trừ ba trói buộc đầu và một số mức độ của haitrói buộc kế, đó là, khoái lạc giác quan và hiềm hận, thông qua con đường của bậc chỉ trở lại một lần (Sakadaagaamii magga), vị hành giả trở thành bậc trở lại một lần (Sakadaagaamii), và sự chứng đắc của vị ấy được gọi là quả trở lại một lần (sakadaagaami-phala). Nhờ diệt trừ toàn bộ năm trói buộc thấp (pancamaani orambhaagiyaani sa’myojanaani), thông qua con đường của bậc không còn trở lại (Anaagaamii magga), vị hành giả trở thành bậc không còn trở lại (Anaagaamii), và sự chứng đắc của vị ấy được gọi là quả không còn trở lại (Anaagaami-phala). Nhờ diệt trừ năm trói buộc cao (pancamaani uddhambhaagiyaani sa’myojanaani), tức năm trói buộc cuối cùng, thông qua con đường của bậc A-la-hán (Arahantta magga), vị hành giả trở thành bậc giác ngộ hay bậc A-la-hán (Arahant), và quả chứng đắc của vị ấy được gọi là quả giác ngộ hay quả A-la-hán (Arahatta-phala).<13>Như vậy gia phả của tám thánh nhân được phân thành hai bốn cặp: đó là bốn quả và bốn hướng.<14> Trong một ẩn dụ đặc biệt,<15> đứcPhật đã so sánh bốn bậc thánh với hình ảnh của hoa sen và hành giả. Bậc dự vào dòng thánh được ví với vị hành giả bất động, bậc trở lại một lần với hành giả hoa sen xanh, bậc không trở lại với hoa sen trắng và bậc A-la-hán là bậc thánh cao nhất.

Mọi Người Xem :   Các loại nhà trong tiếng Anh - Phân biệt đầy đủ và chi tiết nhất

III. BẬC DỰ VÀO DÒNG THÁNH (SOTAAPANNA)

Tình trạng của bậc dự vào dòng thánh

Trong ý nghĩa giải thoát, có hai loại dòng (sota): đó là dòng luân hồi (sa’msaara) và dòng niết-bàn (nibbaana). Dòng luân hồi còn được gọi trong kinh điển Phật giáo là thác lũ (ogha) của khoái lạc giác quan (kaamogha, dục lậu), của tái hiện hữu (bhavogha, hữu lậu), của quan điểm sai lạc (di.t.thogha, kiến lậu) và lũ lụt vô minh (avijjogha, vô minh lậu).<16> Dòng luân hồi sẽ chảy vào các cảnh giới ma quỷ, thú vật và đọa xứ, trong khi dòng pháp (dhammasota) sẽ đưa hành giả thực nghiệm tâm linh đến bờ bên kia (paara’m / paara”ngata), hay chảy vào niết-bàn, cũng như nước của trăm sông tuông về biển cả.<17> Bậc dự vào dòng thánh (Sotaapanna) là bậc bắt đầu lội vào dòng niết-bàn, lộingược dòng luân hồi, và được định nghĩa như là bậc đã diệt trừ ba trói buộc đầu, đó là, quan niệm sai lầm về nhân tính (sakkaaya-di.t.thi, thân kiến), nghi hoặc (vicikicchaa), và chấp vào giáo điều và nghi thức như là phương tiện giải thoát (siilabbata-paraamaasa, giới cấm thủ).<18>Nhờ nhổ sạch gốc rễ của ba trói buộc này, vị ấy đã đứng vững trên con đường của bậc thánh, không bao giờ bị thối chuyển, và đãđóng bít các cánh cửa tái sanh vào ngạ quỷ, thú vật, đoạ xứ hay những cảnh giới hiện hữu thấp kém, và chắc chắn sẽ chứng đắc giảithoát.<19>

Quan điểm sai lầm về nhân tính (sakkaaya-di.t.thi) là những chủ trương cho rằng năm nhóm nhân tính tâm vật lý (pa~ncakkhandhaa), như thân thể (ruupa), cảm giác (vedanaa), ý niệm hóa (sa~n~naa), vận hành tâm (sa”nkhaaraa) và thức phân biệt (vi~n~naa.na),là đồng nhất với một thực tại bản ngã thường hằng, hay cho rằng chúng chứa đựng, hoặc được chứa đựng trong thực tại bản ngã đó.<20> Quan điểm sai lầm này kéo theo ba hình thái lầm nhận bản ngã khác, đó là, “cái này là của tôi” (eta’m mama), “cái này là tôi” (eso’ ham asmi) và “cái này là bản ngã của tôi” (eso me attaa).<21>Quan niệm nhân tính sai lầm này bám rễ ở nhận thức đi ngược lại các chân lý “tất cả những gì duyên khởi tương thuộc là không thường còn” (sabbe sa”nkhaaraa aniccaa, chư hành vô thường), “tất cả những gì duyên khởi tương thuộc kéo theo không mãn hay đau khổ” (sabbe sa”nkhaaraa dukkhaa, chư hành thị khổ) và “tất cả mọi sự vật hiện tượng là không thực thể, vô ngã” (sabbe dhammaa anattaa, chư pháp vô ngã).<22>

Nghi hoặc (vicikicchaa) bao gồm năm thái độ hoài nghivề đức Phật, giáo pháp giải thoát của Phật, đoàn thể tu sĩ Phật giáo, đời sống đạo đức và sự độ lượng. Chúng được gọi là năm tróibuộc hay chướng vật của tâm.<23> Nghi hoặc về đức Phật là thái độ hoài nghi về sự toàn thiện của đức Phật về đạo đức và trí tuệ.Người sống với nghi hoặc này sẽ không tin rằng đức Phật không còn các khổ đau nội tại, đã diệt trừ sạch các dòng chảy bất thiệnvà bất tịnh của tâm, luôn phát triển tối đa các hành vi thiện ích cho đời, sống với trí tuệ không chấp trước.<24> Hoài nghi về con đường giải thoát của Phật là một thái độ không nhìn thấy đượcbản chất giải thoát, thiết thực hiện nay, sâu kín thâm diệu của những lời Phật dạy. Hoài nghi về đoàn thể tu sĩ Phật giáo là thái độ không tin vào sự chuyển hóa về đời sống đạo đức và trí tuệ của các hành giả tu sĩ Phật giáo. Hoài nghi về cuộc sống đạo đức là thái độ cho rằng luân lý và đạo đức không thể hướng đến đời sống thánh thiện hay ý nghĩa. Và hoài nghi về sự độ lượng là thái độ không thừa nhận giá trị đạo đức và xã hội của các hành vi bố thí, cúng dường, giúp đỡ hay ban tặng, nói chung giá trị của các hành vi côngđức hay từ thiện xã hội. Nhìn chung các nghi hoặc này không có lợi cho đời sống đạo đức, và ngăn bít con đường phát triển tâm linh và chứng đắc giải thoát.

Phân loại bậc dự vào dòng thánh

Có ba bậc dự vào dòng thánh, đó là, bậc phải trải qua tối ba là bảy lần tái sanh (sattakkhattu’mparama), bậc chỉ tái sanh hai ba lần (kola’mkola) và bậc chỉ trở lại một lần rồi chứng thánh quả (ekabiijii).<25>Có nghĩa là mức độ và chức vụ phát triển đạo đức, thiền định và trí tuệ trong tỉnh thức và diệt trừ các trói buộc (sa’myojaya)sẽ làm cho giai đoạn tu tập trở nên ngắn hay dài. Kinh điển nguyên thủy ghi chép rằng thời gian bảy lần tái sanh không phải là thời gian cố định rất cần thiết. Tuỳ thuộc vào mức độ nỗ lực và hành trì của hành giả mà thời gian tu tập có khả năng rút ngắn lại ngay trong cuộc sống Hiện tại này, để chứng được quả A-la-hán. Đó là lý do mà kinh điển ghi bằng cách diệt trừ ba trói buộc, bậc dựvào dòng thánh chỉ phải tái sanh “tối đa” bảy lần trong thế giớichư thiên và loài người để chận đứng hoàn toàn dòng luân hồi. Trong phần lớn các trường hợp, nhờ diệt trừ ba trói buộc, bậc dự vào dòng thánh sẽ tái sanh trong gia đình thiện (kola’mkolo) và chỉ tái sanh một hai lần là có thể chấm dứt toàn bộ đau khổ. Trong các trường hợp khác, bậc dự vào dòng thánh chỉ tái sanh làm người một lần thôi là có thể chứng quả A-la-hán, từ giả vĩnh viễnmọi khổ đau.<26> Nói cách khác, thời gian không phải là yếu tố quyết liệt sự chứng ngộ. Thay vào đó, nỗ lực tu thực nghiệm tâm linh qua thiền định là yếu tố chủ não của con đường giải thoát vàgiác ngộ.

Vị trí đạo đức và trí tuệ của bậc dự vào dòng thánh

Bậc dự vào dòng thánh đã hoàn toàn dứt được năm sợ hãi và sầu bi phát sanh từ các hành vi bất thiện như giết hại mạng sống, trộm cướp, cuộc sống tình dục, lời nói sai sự thật và rượu tương đương các kích thích tố có hại cho tâm trí và thể chất.<27> Bậc dự vào dòng thánh là người tuệ tri được nguồn gốc duyên khởi và tương thuộc (pa.ticcasamuppaada) của thế giới (loka).

Có bốn niềm tin bất động của bậc dự vào dòng thánh (cattaari sotaapattiya”ngaani).<28>Đó là j niềm tin bất động vào đức Phật, k niềm tin bất động vào con đường giải thoát của Phật, l niềm tin bất động vào thánh tăngm niềm tin bất động vào đời sống đạo đức sẽ kéo theo thiền định (samaadhi). Bốn niềm tin chân chánh này còn được gọi là tấm gương của đạo đức hay chân lý (dhammaadaasa).<29> Về đức Phật, bậc dự vào dòng thánh tin tưởng với trí tuệ rằng đức Phật là chủ đề của thiền quán (buddhagu.naaramma.na).<30> Bậc dự vào dòng thánh tin đức Phật là j Như Lai (Tathaagata), k Bậc A-la-hán đáng tôn kính (arahati) do đã bẻ gẫy (hanati) các gộng (araa) của bánh xe tái sanh, l bậc giác ngộ viên mãn (Sammaasambuddha), m bậc trí tuệ và đạo đức trọn vẹn (Vijjaa cara.na sampanna), n bậc đã chấm dứt luân hồi (Sugata), o bậc tuệ tri được thế giới (Lokaviduu), p bậc huấn luyện loài người (Anuttara purisa damma saarathi), q bậc thầy của thần linh và con người (satthaa devamanussaana’m), r bậc giác ngộ (Buddha), và s bậc Thế Tôn (Bhagavant).<31>

Mọi Người Xem :   Top 10 nơi mua thùng carton Hà Nội, hộp carton Hà Nội uy tín

Về con đường giải thoát của đức Phật, bậc dự vào dòng thánh tin rằng đó là giáo pháp j được giảng dạy một cách thiện xảo (svaakkhaata), k đem lại kết quả thiết thực trong đời (sandi.t.thika), có giá trị siêu thời gian (akaalika), m mời gọi sự đến và thấy (ehipassika), n hướng đến cao thượng (opanayika), và o và được bậc trí đã kinh nghiệm và công nhận (paccatta’m veditabbo vi~n~nuuhi).<32> Bậc dự vào dòng thánh nhận thức được rằng giáo pháp của Phật (dhamma) rất thâm sâu, khó thấy, khó hiểu, siêu tuyệt, vượt khỏi logic, vi diệu, thù thắng.<33>

Giáo pháp của đức Phật được tóm gọn trong 37 yếu tố hướng đến giác ngộ (bodhipakkhiyadhamma), bao gồm 4 cơ sở chánh niệm (cattaaro-satipa.t.thaanaa), 4 nỗ lực chân chánh (cattaaro sammappadhaana), 4 thần túc (cattaaro iddhipaadaa), 5 căn (pa~ncindriyaani), 5 năng lực (pa~ncabalaani), 7 yếu tố giác ngộ (sattabojjhanga) và 8 đường thánh (ariyo atthangiko maggo).

Xem thêm: Nơi Bán Trà Atiso Đà Lạt Mua Ở Đâu Tại TP.Hồ Chí Minh? Trà Atiso Túi Lọc, danh mục Từ Atiso Tươi Đà Lạt

Về cộng đồng tu sĩ thánh, bậc bậc dự vào dòng thánh tin rằng đó là cộng đồng có đời sống đạo đức, hành vi trí tuệ, đi trên đường chân chánh, bao gồm tám thánh nhân, xứng đáng được tôn kính và quy ngưỡng và là ruộng phước của đời. Về bản chất của đời sống đạo đức, bậc bậc dự vào dòng thánh tin rằng đạo đức (siila),không tỳ vết, không gián đoạn chắc chắn sẽ dẫn đến thiền định vàtrí tuệ và luôn được bậc trí khen ngợi. Về sự độ lượng (caaga),bậc bậc dự vào dòng thánh tin rằng đó là hành vi giúp cho con người cởi bỏ được thái độ tham lam, bỏn xẻn, vị kỷ, hướng đến tâmvị tha, không chấp thủ sở hữu, sẳn sàng ban tặng, giúp đỡ và chia xẻ sở hữu của mình cho người khác. Với những niềm tin (saddhaa) đầy trí tuệ này, bậc bậc dự vào dòng thánh (sotaapanna) được mô tả là bậc đã nắm vững chánh pháp (di.t.thadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogaa hadhammo), vượt khỏi hoài nghi và thiếu niềm tin (ti~n~navicikccho vigatakatha’mkatho) và chắc chắn không còn lui sụt trên đường giác ngộ (niyato sambodhiparaaya.no).Trong các bài kinh khác, bốn khó khăn này được lập lại với vài thay đổi, nhất là điều kiện sau cùng. Ở đây, niềm tin về cuộc sống đạo đức được thay thế bằng sự độ lượng.

Có vài điều kiện nhất định mà bậc dự vào dòng thánh phải thực hiện để dự vào dòng niết-bàn. Đó là thân cận các bạn tri thức thiện (kalyaa.namittataa),<40> ứng dựng tâm vào các chủ đề thiền quán liên hệ đến giáo pháp (dhammaanudhamma-pa.tipatti) và thực hành đường thánh gồm tám yếu tố (ariya-a.t.tha”ngika-magga), như quan niệm chân chánh (sammaadi.t.thi), tư duy chân chánh (sammaasa”nkappa), lời nói chân chánh (sammaavaacaa), hành vi chân chánh (sammaakammanta), nghề nghiệp chân chánh (sammaa-aajiiva), nỗ lực chân chánh (sammaa-vaayaama), chánh niệm (sammaasati) và chánh định (sammaa-samaadhi).<41>

mặt khác, bậc dự vào dòng thánh đang trên đường hoàn thiện đờisống đạo đức và trí tuệ bằng thiền định.<42> Vị ấy tuệ tri nguyên lý duyên khởi tương thuộc (paticcasamuppaada) của mọi sự vật (dhammaa).<43>Vị ấy nhận chân rõ bốn chân lý thánh.<44> Vị ấy được gọi là hànhgiả bất động,<45> một trong tám thành viên của gia phả thánh.<46> Vị ấy làm chủ và không bao giờ vi phạm các nghiệp giếthại, nói láo, trộm cướp, hoạt động tình dục, và rượu chè hút sách.<47>

Bậc dự vào dòng thánh thường thực hiện sáu loại thiền quán (sa~n~na) tạo thành trí tuệ (cha vijjaa bhaagiye dhamme). Đó là quán tưởng về vô thường (anicca) của các vật hữu vi (sa”nkhaaraa), quán tưởng về khổ (dukkha) trong sự vô thường, quán về sự không thực thể hay vô ngã (anatta), quán về sự từ bỏ, quán về sự xả ly, ly tham và niết-bàn.<48>

Như là kết của sự chứng đắc, bậc dự vào dòng thánh (sotaapanna)đã vĩnh viễn khép lại các cánh cửa tái sanh vào ma quỷ, thú vật,đoạ xứ, hay các cảnh giới bất thiện. Vị ấy không bao giờ bị thốithất trong con đường giác ngộ, chắc chắn đạt được sự giác ngộ vàgiải thoát ở đời này hay tương lai.<49> Vị ấy không còn sợ hãi cái chết.<50> Vị ấy chỉ phải tái sanh tối đa 7 lần (sattakkhattu-parama) trong các cảnh giới thiện. Vị ấy được mệnh danh là người được liệt vào gia phả thánh (kola”nkola) chỉ phải sanh đôi ba lần. Vị ấy chỉ phải tái sanh một lần (ekabiijii)để chấm dứt mọi đau khổ.<51> tổng giá trị của quả dự vào dòng thành là “hơn hẳn các bậc trị vì trái đất, hơn hẳn được sanh về cõi trời và hơn hẳn các bậc chúa tể của các thế giới.”<52>

Cần nói thêm rằng giai đoạn tiền dự lưu trong tiến trình chuyển hóa tâm linh kéo theo niết-bàn được gọi là thành viên của gia phả thánh (gotrabhuu).<53> Thành viên của gia phả thánh có khả năng là người cư sĩ hay vị tu sĩ, sống đời không đam mê khoái lạc thế gian (puthujjana)<54> và đã hoà nhập vào cuộc sống của các bậc thánh (ariya). Người phàm kẻ tục (puthujjana),có khả năng trở thành thành viên thánh, nếu vị ấy chịu phát huy các đức tánh đạo đức thiện. Nói cách khác quả vị giác ngộ không phải là đặc ân dành cho đệ tử Phật, mà là thành quả của những ai nỗ lực chân chánh để thành Phật.<55>

IV. BẬC TRỞ LẠI MỘT LẦN (SAKADAAGAAM… )

Bậc trở lại một lần (Sakadaagaamii) được định nghĩa là thành viên thánh, người đã chấm dứt trọn vẹn ba trói buộc đầu (sa’myojanaani) và Giảm thiểu tối đa hai trói buộc kế tiếp, đó là, đam mê khoái lạc giác quan (kaama-raaga) và hiềm hận (vyaapaada), và là vị chỉ phải sanh lại đời này một lần nữa là có khả năng tạ từ sanh tử và khổ đau.<56>

Vị ấy huấn luyện mình trong các nguyên tắc đạo đức. Người như vậy do diệt trừ ba trói buộc sẽ chỉ phải tái sanh tối đa bảy lần nữa trong cõi trời và người và sau cùng sẽ dứt sạch đaukhổ. Hoặc người như vậy sau khi diệt trừ bau trói buộc sẽ trở thành người chỉ phải tái sanh một lần là có khả năng diệt hết đau khổ. Vị ấy nhờ diệt trừ ba trói buộc và làm Giảm thiểu tầm hoạt động của tham dục , sân hận và vô minh , trở thành vị trở lại một lần để chấm dứt các đau khổ.<57>

Theo đoạn kinh trên, con đường của bậc trở lại một lần bắt đầubằng sự diệt trừ trọn vẹn ba trói buộc và có những tiến bộ tâm linh và đạo đức nhất định về đam mê khoái lạc giác quan (kaamaraago) và hiềm hận (vyaapaado).

Trong quá trình chứng đắc của ba con đường giác ngộ cao hơn, tiến triển và sự tiến hóa tâm linh cũng khởi đầu giống như người chứng được quả dự vào dòng thánh này. Nghĩa là mỗi con đường chứng ngộ cao hơn có khả năng đạt được một cách thứ tự từ thấp đến cao, để trở thành một bậc thánh thật sự.

V. BẬC KHÔNG CÒN TRỞ LẠI (ANAAGAAM… )

Tình trạng của bậc không còn trở lại

Mọi Người Xem :   Mua đàn violin ở đâu giá rẻ, chất lượng tốt tại Hà Nội - Nhạc cụ Linh Nhi

Quả vị thánh thứ ba là bậc không trở lại sanh tử (Anaagaamii), được định nghĩa như là người đã nhổ sạch gốc rễ của năm trói buộc thấp (pancamaani orambhaagiyaani sa’myojanaani), đó là, quan niệm sai lầm về nhân tính (sakkaaya-di.t.thi), hoài nghi (vicikicchaa), cho rằng giáo điều và nghi lễ là phương tiện của giải thoát (siilabbata-paraamaasa), đam mê khoái lạc giác quan (kaama-raaga), hiềm hận (vyaapaada).Năm kiết sử này là những phiền não trói buộc con người vào nhữngthế giới thấp kép. Thoát khỏi chúng, vị hành giả sẽ có thể tái sanh cõi trời tịnh cư (suddhaavaasa) và khi qua đời tại đó, không còn sanh tử trên cõi đời này nữa.<58> Nói cách khác, vị không trở lại sanh tử là bậc thánh không còn trở lại cuộc sống của thế giới khoái lạc giác quan (kaamadhaatu), phóng ra mình khỏi các đam mê sắi dục (kaamayoga)và gần kề với cứu cánh của sự chứng ngộ quả A-la-hán. Sau khi mãn phần ở cõi đời, vị ấy có khả năng tái sanh vào một trong những cõitrời cao nhất và chứng đắc đạo quả A-la-hán tại đây. mặc khác, bậc không trở lại này vẫn còn phải chịu sự hiện hữu (bhavayoga) do sự diệt trừ phiền não (aasavaa) chưa đến mức rốt ráo.

Sự trói buộc của dục lạc (kaamayoga) còn gọi là sự đam mê khoái lạc thân xác (kaamacchanda) là sự đam mê về năm dục lạc của đời (pa~nca kaamagu.na),<59>đó là, vật thể đẹp do mắt nhận thức, âm thanh hay do tai nhận thức, mùi dễ chịu cho mũingửi, vị ngon do lưởi nếm, vật êm ái do thân xúc chạm. Hàng phàm phu xem những thứ này là khả lạc, khả ái, khả hỷ và thậm chí như những hình thái hạnh phúc cao nhất mà con người có khả năng đạt được trên đời này.<60> Nhưng trên thực tế, đó là thứ hạnh phúc thấp nhất, so với hạnh phúc của thiền định vàniết-bàn.<61> Sợi dây trói buộc của khoái lạc giác quan là một thể hiện của tham (lobha / raaga) và cách thức khác của tham ái (ta”nhaa),đóng chức năng như là phiền não chính của tâm và gây ra đau khổ.cũng như các hiện tượng khác, các dục lạc đều mang tính chất củakhó khăn nhân quả. Chúng được ba nhóm hành vi bất thiện của thân, miệng và ý điều khiển và chi phối. Các hành vi bất thiện này phát sanh từ sự không kiềm chế và làm chủ vận hành của các quan năng cảm giác. Sự không làm chủ các giác quan lại do thiếu chánh niệm và tỉnh giác. Mất chánh niệm và tỉnh giác trong đời sống là thiếu thái độ nhận thức sự vật như chúng là.<62> Tiến trình duyênkhởi của các bất thiện này được mô tả trong kinh Tương Ưng (Sa’myutta-Nikaaya)<63>rằng thực phẩm cho sự phát sanh các trói buộc của khoái lạc giácquan chưa sanh và làm lớn mạnh các trói buộc đã sanh là “đặc điểm đẹp của các sự vật và thái độ quan sát sự vật không đúng vớibản chất của chúng (ayoniso manasikaara, không như lý tác ý). Nói cách khác, do vắng mặt của thái độ nhận thức sự vật như chúng là (yoniso manasikaara),con người đánh mất tự chủ tâm mình trước các vẻ đẹp quyến rũ củacác sự vật, đã làm cho các giác quan chạy theo và vướng mắc vào các đối tượng của chúng, tìm kiếm khoái lạc qua thân, lời nói và ýtưởng.

Hiềm hận (vyaapaada) thường được thể hiện qua các thái độ và hành động chống trả, bức chế, đàn áp, tranh chấp, đấu tranh, tiêu diệt các sự vật không khả ái, khả lạc và khả hỷ. Nó là một hình thái của sân (dosa) vốn là một trong ba gốc rễ của các động cơ và hành vi bất thiện. tương đương trói buộc các khoái lạc giác quan, như đức Phật trình bày, đặc tính không đẹp của sự vật và thái độ nhận thức không phù hợp với bản chất của sự vật như chúng là, là hai thực phẩm nuôi sống sự sanh khởi của các hiềm hận chưa sanh, và phát triển các hiềm hận đã sanh.<64>

Đức Phật đã so sánh trói buộc của khoái lạc giác quan với con nợ và hiềm hận với con bệnh và giải thoát khỏi trói buộc khoái lạc giác quan và giải thoát khỏi hiềm hận được ví như hết nợ và hết bệnh.<65> Trong kinh Tương Ưng,<66> đức Phật đã sánh ví trói buộc của khoái lạc giác quan với tô nước bẩn trong khi hiềm hận như tô nước đang sôi. Người nhìn vào đó không thể thấy rõ được gương mặt của mình. Nói khác đi, khi tâm con người bị các trói buộc của khoái lạc giác quan và hiềm hận chi phối và ám ảnh sẽ không có thể nhận biết và tuệ tri được các đặc tính tốt của mình, của người và của cả hai.

Theo đức Phật, trói buộc khoái lạc giác quan sẽ bị diệt trừ nhờ vào sự phát triển thái độ nhận sự vật đúng với bản chất của chúng (yoniso manasikaara) và sự giải thoát nội tại nhờ vào lòng từ bi (mettaacetovimutti).<67> Khi cụ thể hoá, các trói buộc này được diệt trừ bằng cách phát triển đời sống ẩn dật (viveka) của thân (kaayaviveka), của tâm ý (cittaviveka) và ẩn dật kiềm chế (vikkhambha.naviveka).Yêú tố đầu tiên của tiến trình tu tập phát triển đời sống tâm linh là rút lui các căn khỏi sự vướng bận của chúng đối với các đối tượng thế giới. Kế đến là sự rút lui của các vận hành nội tâm về các phiền não và lậu hoặc. Thứ ba là phát triển thái độ từbỏ (pahaana), chẳng hạn như từ bỏ nhờ khống chế (vikkhambhanappahaana’m), từ bỏ nhờ thay thế các phương thuận tiện đối lập (tada”ngappahaana’m), từ bỏ bằng cách chặt đứt (samucchedappahaana’m), tự bỏ nhờ đời sống an tĩnh (pa.tippassaddhippahaana’m) va từ bỏ bằng sự giải thoát (nissaranappahaana’m).<68>

Trình bày một cách khác là, các trói buộc của khoái lạc giác quan có thể được đoạn trừ bằng cách thực hành thiền định về các chủ đề bất lợi và xấu xa của thân xác, về thiền làm chủ các quan năng cảm giác, về sự huân bình trong các mong muốn, trong khi đó, hiềm hận có thể có thể được trừ diệt bằng cách hành trì thiền định về các chủ đề từ bi, thông cảm, tuỳ hỷ, ủng hộ người tốt việc tốt, gần gủi người thiện v.v… Nói chung, chúng ta có khả năng vượt qua hai trói buộc này bằng cách thực hành bốn cơ sở của chánh niệm (sammaasati), đó là chánh niệm về các hoạt động của thân (kaayaanupassanaa), của các cảm giác (vedanaanupassanaa), của tư tưởng (cittaanupassanaa) và của những ý niệm của tâm (dhammaanupassanaa).<69>

Phân loại bậc không trở lại sanh tử

Trong kinh điển nguyên thủy, có tất cả năm loại hình các bậc không trở lại sanh tử là:<70>

j Người đã chặt đứt dòng vận hành của năm trói buộc cao và chứng đắc niết-bàn trong nửa đời người đầu (antaraa parinibbaayii),

k Người đã chặt đứt dòng hoạt động của năm trói buộc cao và chứng đắc niết-bàn trong nửa đời người sau (upahacca parinibbaayii),

l Người đã chặt đứt dòng hoạt động của năm trói buộc cao và chứng đắc niết-bàn một cách không cần dụng công (asa”nkhaara parinibbaayii). Kinh Tăng Chi (A”nguttara Nikaaya)<71> đềcập hạng hành giả này do ý thức và quán chiếu về sự bất tịnh củathân, sự vô ngã của các sự vật, sự vô thường của thế giới, sự giả tạm của cuộc đời, và tất cả phải chết, nên đã phát triển đượcnăm năng lực và năm căn.

m Người đã chặt đứt dòng hoạt động của năm trói buộc cao và chứng đắc niết-bàn với nhiều nỗ lực và điều kiện (sasa”nkhaara parinibbaayii), và

n Người đã lội ngược dòng để chứng đạt trạng thái cao nhất (uddha’msoto akani.t.thagaamii).<72>

VI. BẬC A-LA-HÁN

Trình trạng đạo đức và trí tuệ của A-la-hán

Bậc A-la-hán được định nghĩa là người không còn các trói buộc khoái lạc giác quan (kaamayoga) trói buộc tái hiện hữu (bhavayoga) và các dòng chày lậu hoặc của tâm đã khô cạn (aasavaana’m khaya).<73> Sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc (aasavaana’m khaya) hay giải thoát lậu hoặc (anaasava) sẽ kéo theo sự chứng đạt giải thoát tâm (cetovimutti), và giải thoát bằng trí tuệ (pa~n~naavimutti) và chứng đạt được trí tuệ siêu việt (abhi~n~naa) ngay trong đời hiện nay này (di.t.thevadhamme).<74>

Bậc A-la-hán đã hoàn tất ba huấn luyện cao cấp về tâm linh (tiisu sikkhaasu sikkhitaa) đó là sự huấn luận về đạo đức cao thượng (adhisiila), thiền định cao thượng (adhicitta) và trí tuệ siêu việt (adhipa~n~naa). Bậc A-la-hán đã hoàn thành cuộc sống thánh thiện (yo saaro brahmacariyassa tasmim aparapaccayaa) và không còn bị tái sanh trong tương lai (vippamuttaa punabbhavaa).”<75> A-la-hán là bậc không còn bị giao động (akopya) trong các biến cố của đời. A-la-hán là bậc chiến thắng (vijitaavino) tất cả các khuynh hướng bất thiện và xấu ác (anusayaa).



Các câu hỏi về thánh nhân là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê thánh nhân là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết thánh nhân là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết thánh nhân là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết thánh nhân là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về thánh nhân là gì


Các hình ảnh về thánh nhân là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tham khảo thêm thông tin về thánh nhân là gì tại WikiPedia

Bạn có thể tham khảo thêm thông tin chi tiết về thánh nhân là gì từ web Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

Related Posts

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng. 1

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng.

ContentsĐánh giá về Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ HãiCác câu hỏi về thánh nhân là gìCác Hình Ảnh…
Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống 2

Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ HãiCác câu hỏi về thánh nhân là gìCác Hình Ảnh…
Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống 3

Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ HãiCác câu hỏi về thánh nhân là gìCác Hình Ảnh…
CH3Cl - metyl clorua - Chất hoá học 4

CH3Cl – metyl clorua – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ HãiCác câu hỏi về thánh nhân là gìCác Hình Ảnh…
I2 - Iot - Chất hoá học 5

I2 – Iot – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ HãiCác câu hỏi về thánh nhân là gìCác Hình Ảnh…
7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt 6

7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt

ContentsĐánh giá về Thánh Nhân Là Gì – Bậc Thánh Nhân Hiểu Mệnh, Biết Thời, Không Sợ HãiCác câu hỏi về thánh nhân là gìCác Hình Ảnh…