TIỂU LUẬN tâm lý học PHẠM TRÙ NHÂN CÁCH TRONG tâm lý học mác xít – Tài liệu text

Bài viết TIỂU LUẬN tâm lý học PHẠM TRÙ NHÂN CÁCH TRONG tâm lý học mác xít – Tài liệu text thuộc chủ đề về Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer.Com.Vn tìm hiểu TIỂU LUẬN tâm lý học PHẠM TRÙ NHÂN CÁCH TRONG tâm lý học mác xít – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “TIỂU LUẬN tâm lý học PHẠM TRÙ NHÂN CÁCH TRONG tâm lý học mác xít – Tài liệu text”

Đánh giá về TIỂU LUẬN tâm lý học PHẠM TRÙ NHÂN CÁCH TRONG tâm lý học mác xít – Tài liệu text


Xem nhanh
Ngành Tâm Lý Học học gì và làm gì? | Hướng nghiệp Trillionto1
----------------------------------------------------------
Donate:
https://vrdonate.vn/trantiendai3299

Follow:
Fanpage: https://www.facebook.com/trantiendai3299
Instagram: @trantiendai3299
Group: https://www.facebook.com/groups/trantiendaiclan
Podcasts: https://soundcloud.com/trantiendai3299
Email: [email protected]
Giúp mình làm phụ đề cho video để các bạn khiếm thính có thể xem: https://bit.ly/phudeguitrantiendai
-------------------------------------------------------------
Nếu bạn đọc đến tận đây thì xuống dưới comment “be kind!” cho mình biết nha :3
#trantiendai #huongnghieptrillionto1 #huongnghiep
-------------------------------------------------------------
tran tien dai, trần tiến đài, trantiendai, trantiendai3299, hướng nghiệp, huong nghiep, nganh tam ly, ky nang song, ngành tâm lý, kỹ năng sống, hướng nghiệp trillionto1, huong nghiep trillionto1, chọn ngành, chọn ngành đại học, xu hướng ngành học, xu hướng nghề nghiệp, cách chọn ngành, cách chọn ngành đại học, định hướng nghề nghiệp, chọn nghề, chọn nghề theo tính cách, các ngành đại học, marketing, content marketing, truyền thông, tâm lý học, ngành tâm lý học, tam ly hoc, nganh tam ly hoc, ngành tâm lý học giáo dục, nganh tam ly hoc giao duc, tâm lý học giáo dục, tam ly hoc giao duc, tâm lý giáo dục, tam ly giao duc, ngành tâm lý giáo dục, nganh tam ly giao duc, ngành tâm lý giáo dục học, nganh tam ly giao duc hoc, trillionto1, học marketing, học marketing ở đâu, ngành marketing, content marketing là gì, mkt, logistics, chuỗi cung ứng, các ngành hot, ngành hot, định hướng, dinh huong nghe nghiep,

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.8 KB, 19 trang )

Phạm trù nhân cách trong tâm lý học mác-xítSự phát triển và hoàn thiện nhân cách con người đang trở thành trung tâmchú ý của thường xuyên nhà nghiên cứu. Trong khó khăn của cuộc cách mạng khoa học kỹthuật hiện nay, nhân tố con người trở lên cấp bách thì sự hiểu biết về vấn đề nhâncách là tiền đề của việc đầu tư có hiệu quả vào sự phát triển con người – yếu tốquyết liệt mọi sự phát triển trong xã hội. Trong Tâm lý học vấn đề nhân cách làmột vấn đề quan trọng bậc nhất và thống kê gặp thường xuyên khó khăn nhất vì nhữnglý do, thứ nhất là việc thống kê đụng chạm đến những quan tâm chính trị của xãhội. do đó, nhiều lý thuyết được tạo ra tuỳ thuộc vào sự hoạch định của các tácgiả mà mang tính chất duy tâm hay duy vật. Thứ hai là nhân cách là một cấu tạo rấtphức tạp, Vì vậy các hướng tiếp cận nghiên cứu nhân cách rất phong phú dựa trênnhững quan điểm, quan niệm về nhân cách khác nhéu.Nhân cách là đỉnh cao nhất của sự phát triển tâm lí cuả con người, của tự ýthức và tự điều chỉnh bản thân con người. Nhà tâm lý học nổi tiếng người NgaL.X.Vưgốtxki đã từng khẳng định: “Vấn đề nhân cách và phát triển nhân cách làvấn đề tập trung cao nhất của toàn bộ tâm lý học”. Việc thống kê, nắm chắcquan điểm về nhân cách trong tâm lý học mác-xít có ý nghĩa vô cùng to lớn cả vềphương diện lý luận, phương pháp luận cũng như trong thực tiễn. Vấn đề nhâncách đã thu hút được sự quan tâm, thống kê của rất nhiều ngành khoa học như:giáo dục học, đạo đức học, y học, xã hội học, tâm lý học…tuy nhiên, nhân cách lạilà vấn đề rất phức tạp. Ngay trong tâm lý học, xuất phát từ cơ sở lý luận và phươngpháp luận khác nhau nên có rất nhiều quan điểm, tư tưởng, cách tiếp cận, cáctrường phái khác và lý thuyết khác nhéu khi thống kê về nhân cách. Việc nắmchắc lý luận mác-xít về nhân cách là cơ sở để phê phán những quan điểm, lý thuyếtbàn về nhân cách một cách phiến diện, máy móc, phản động, phản khoa học, phigiai cấp, phi lịch sử trong tâm lý học. Đồng thời, khẳng định bản chất cách mạngvà giá trị khoa học của phạm trù nhân cách tương đương vai trò của tâm lý học mácxít trong sự hình thành, phát triển nhân cách.1

1. một số quan điểm ngoài Mác xít về nhân cách

Lịch sử phát triển của khoa học tâm lý đã cho thấy rằng vấn đề nhân cách luôn làvấn đề phức tạp và cũng là vấn đề trung tâm của tâm lý học. một số nhà triết học,tâm lý học ngoài mác-xít đã có những đóng góp không nhỏ trong việc luận giải vấnđề bản chất, nguồn gốc của nhân cách. mặc khác, do Giảm về mặt phương phápluận cũng như khó khăn lịch sử nên việc luận giải vấn đề nhân cách còn nhiềukhiếm khuyết, chưa thấy được cái bản chất thực sự của nhân cách cũng như nguồngốc, con đường hình thành nên nhân cách. Trong đó nổi bật có một vài tư tưởng,quan niệm đáng chú ý như sau:1.1. Tư tưởng phương Đông cổ đại về nhân cáchCác nhà tư tưởng triết học phương Đông cổ đại cho rằng con người là tiểuvũ trụ, mang những đặc tính của vũ trụ. Những đặc tính này chi phối sự phát triểncon người. Con người liên lạc với vũ trụ bao la nên con người cần biết được cácthông tin của vũ trụ. Thực thể con người là danh mục của nguyên lý âm dương, vừađối lập vừa thống nhất, chứa đựng và chuyển hoá lẫn nhéu, trời – đất – người hợpthành một (thiên – địa – nhân hợp nhất). Tính cách của con người chịu tác độngcủa ngũ hành và chia ra loại người: Kim, Hoả, Thổ, Mộc, Thuỷ. Người mệnh Kimăn ở có nghĩa khí, nếu Kim vượng thì tính cách cương trực. Người mệnh Hoả thì lễnghĩa, đối với mọi người nhã nhặn, lễ độ, thích nói lý luận; nhưng nếu Hoả vượngthì nóng nảy, vội vã, dễ hỏng việc. Người mệnh Thổ trọng chữ tín, nói là làm; nếuThổ vượng thì hay trầm tĩnh, không năng động, dễ bỏ thời cơ. Người mệnh Mộchiền từ, lương thiện, độ lượng; Mộc vượng thì tính cách bất khuất. Người mệnhThuỷ thì khúc khuỷu, quanh co, nhưng thông suốt; nếu Thuỷ vượng thì tính tìnhhung bạo, dễ gây tai hoạ.Người phương Đông đánh giá con người qua chất là chủ yếu, lượng là phụ:lấy “Tâm thiện” là lý tưởng, đề cao tính thiện, tính nhân, thích sự im lặng, nhẹnhàng, đề cao sự cân bằng không thái quá. Mọi tu nhân, xử thế, chính trị đềuhướng tới Thiện. Biết đủ là giàu, giản dị ở vật chất, giản dị trong nội tâm, trong2ngôn từ…. Khổng Tử quan niệm về nhân cách con người thể hiện ở Nhân, Nghĩa,Lễ, Trí, Tín. Trong đó Nhân là gốc và chỉ có người “Đại nhân” mới có Nhân.1.2. Quan niệm về nhân cách trong tâm lý học phương Tây.Trong tâm lý học phương Tây có thường xuyên học thuyết khác nhau về nhân cách.Trong đó nổi bật có các trường phái như Phân tâm học, trường phái Gestalt, tâm lýhọc nhân văn về nhân cách, tâm lý học nhận thức của Piagiê về nhân cách…1.2.1. Phân tâm học về nhân cách* Quan niệm của S.Freud về nhân cách- Về cấu trúc của nhân cách.Theo S.Freud (1856 – 1939) người sáng lập ra trường phái Phân tâm học,cấu trúc nhân cách con người gồm 3 khối: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi, tương ứngvới 3 cấp độ vô thức, ý thức và siêu thức.Khối vô thức là khối bản năng, trong đó bản năng tình dục giữ vị trí trungtâm. Khối vô thức (id) là thùng năng lượng tâm thần chất chứa những khát vọngbản năng sôi sục. hoạt động của “cái nó” theo nguyên tắc khoái cảm đòi hỏi sựthoả mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng. Vô thức là cái ngấm ngầm điềukhiển, điều chỉnh hành vi con người.Khối ý thức cũng như với cái “tôi” (ego). Cái tôi được hình thành do áplực thực tại bên ngoài đến toàn bộ khối bản năng. Nó đảm bảo các chức năng tâmlý như chú ý, trí nhớ…hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại. Nhiệm vụcủa cái tôi là làm cho cái nó thoả mãn mà không làm tổn hại đến cơ thể, làm hạn chếsự stress một cách hấp dẫn nhất.Siêu tôi (superego): là tổ chức bên trong bao gồm tất cả phạm trù xã hội, đạođức, nghệ thuật, giáo dục. Siêu tôi vận hành theo nguyên tắc kiểm duyệt.Cả ba khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối: Conngười lúc ấy ở trạng thái bình thường. Nhưng cả ba khối này luôn luôn xung độtvới nhau, sự xung đột này là cơ chế của vận hành tâm thần.Từ quan niệm như trên S.Freud nêu ra cơ chế vận hành tâm lý của con người.Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ chế suythoái. Con người sống gồm các bản năng, xu hướng của các bản năng này là luôn3

vươn lên chiếm đoạt những cái khác (cái tôi và siêu tôi). Nhưng cái bản năng luôn bịsự chèn ép, kiểm duyệt của cái siêu tôi. Vì vậy, nó phải biến dạng bằng một cách thứcnào đó như bệnh tâm thần, nói lắp,… Trong trường hợp không thoát lên được thì nósiêu thăng. Cái siêu tôi thể hiện ở sự dạy dỗ, quy định của bố mẹ, thể hiện trongtruyền thống của thế hệ trước truyền lại. Cơ chế tâm lý của việc hình thành siêu tôi làsự đồng nhất hoá – cá nhân đồng nhất với cha mẹ và những người giáo dục.- Các giai đoạn phát triển nhân cáchS.Freud chia sự phát triển nhân cách con người thành bốn giai đoạn, trongđó, ba giai đoạn đầu gọi là tiền sinh dục.+ Giai đoạn lỗ miệng (Oral): Có từ lúc trẻ mới sinh, trẻ tìm thấy khoái lạc ởmiệng như mút vú mẹ, cho các đồ vật vào mồm.+ Giai đoạn hậu môn (Anles): Ở trẻ năm thứ hai và năm thứ ba. Giai đoạnnày trẻ chú ý tìm khoái lạc của hoạt động hậu môn.+ Giai đoạn âm vật và bộ phận sinh dục nam: Giai đoạn này trẻ chú ý đến bộ phận sinhdục, sinh ra ra tình cảm lãng mạn đối với cha hoặc mẹ, người khác giới.+ Đến giai đoạn thứ tư, cá nhân hướng ra đối tượng bên ngoài bắt đầu từ tuổidậy thì. Các năng lượng của con người đựơc dùng ở mục đích khác nhéu như đihọc, vui chơi, bắt chước, hướng ra đối tượng khác giới để làm tình…Học thuyết phân tâm của S.Freud đã đưa ra giả thuyết về vô thức, tiềm thức lànhững mặt quan trọng trong cuộc sống tâm lý của con người. S.Freud đã khám phá mộtthế giới vô thức mà trước đây chưa được khám phá. ngoài ra, đóng góp của S.Freud cònở chỗ đưa ra một số cơ chế tâm lý như cơ chế tự vệ, dồn nén, mặc cảm, đồng nhất hoá,các giai đoạn phát triển nhân cách… S.Freud đã lần đầu tiên đưa ra được mô hình tâm lýđể chữa bệnh tâm thần có hiệu quả. Phương pháp chữa bệnh bằng “liên tưởng tự do” đãđược sử dụng khá rộng rãi và hiệu quả trong điều trị bệnh tâm thần.mặc khác, S.Freud đã quá nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người,không thấy được mặt bản chất trong ý thức tâm lý của con người, không thấy được

Mọi Người Xem :   Nhà Thiếu nhi quận 10, 139 Bắc Hải, Quận 10

bản chất xã hội – lịch sử của các hiện tượng tâm lý người. ngoài ra, quan niệm vềcon người và nhân cách con người của S.Freud bộc lộ những khía cạnh khôngđúng đắn: con người trong học thuyết phân tâm là con người sinh vật, con người4

cơ thể bị phân ly ra thường xuyên mảng, con người với những mong muốn là những đammê tính dục và luôn đối lập với xã hội.- Phân tâm học mới về nhân cách+ K.Jung (1879 – 1961) cho rằng hành vi con người được điều chỉnh bằng vôthức và cả ý thức. Đó là quy trình điều chỉnh tổng hợp, là một hệ thống tự điềuchỉnh. Ông cho rằng con người có vô thức đạo đức bẩm sinh. Các hoạt động củacon người có tính chất bản năng và tạo thành vô thức tập thể. Điều đó được thểhiện trong nền văn hoá dân tộc tương đương trong nghệ thuật. Ông cho rằng có vôthức tập thể bởi vì mỗi người đều tiềm tàng trong mình một di sản tinh thần đượctruyền từ nhiều thế hệ trong một nền văn hoá dân tộc và nền văn minh nhân loại.Chính Vì vậy, hình thức phản ứng của mỗi cá nhân cũng giống nhau.K.Jung không thừa nhận bản năng tình dục là quyết định tâm lý con ngườinhư S.Freud quan niệm, nhưng ông lại thừa nhận trong con người có vô thức. Vìvậy, bản chất học thuyết của K.Jung vẫn là học thuyết phân tâm được cải biếnthành học thuyết phân tâm mới.Trong cấu trúc nhân cách của K.Jung, cái tôi là trung tâm của ý thức. Nhâncách là mẹ của ý thức. Vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân. Quanđiểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận nhân cách tầng sâu. Lý luận nhâncách tầng sâu xuất phát từ quan niệm vô thức. Vô thức được xác định bằng nhữngsự kiện của hành vi. Đó là những bản năng trực tiếp và bản năng tức thời. Lý luậnnhân cách tầng sâu là một khám phá mới về vô thức. Song tình trạng này chưa đủ để nóilên bộ mặt nhân cách con người. Nhân cách con người còn thể hiện những phẩmchất cũng như bộ mặt đạo đức trong nó.+ A. Adller là nhà tâm lý học người Áo. Ông cho rằng tất cả hành vi của con

người đều chịu tác động xã hội. Nhân cách thống nhất với hoàn cảnh và môi trường xãhội. Ông vẫn cho vô thức bản năng hay năng lượng tâm hồn là những cơ chế của tínhtích cực, xung đột và bảo vệ. Theo ông, con người luôn muốn hơn người khác, khi cónhược điểm trong lĩnh vực này lại siêu đẳng trong lĩnh vực khác. Đó là cơ chế bù trừ xuấtphát từ động cơ xã hội ( Freud xuất phát từ động cơ tình dục). Ví dụ một cô gái khi kémcỏi về nhén sắc thì lại được bù đắp trong lĩnh vực học hành. Sự bù trừ là có thật trong5

cuộc sống con người. Nhưng sự bù trừ này phụ thuộc vào thường xuyên yếu tố, trong đó yếutố xã hội có tính chất quyết định. Ở đây, Adller quá thổi phồng tính chất bù trừtrong con người, mà không thấy vai trò vận hành của con người trong xã hội.+ E.Fromm là nhà tâm lý học nảy sinh ở Đức sau đó chuyển sang Mỹ. Ông cóý đồ pha trộn phân tâm học của S.Freud và học thuyết xã hội học của Mác vàonhéu và xây dựng nên lý thuyết “chủ nghĩa nhân đạo mới”. Về tâm lý học, Frommcho rằng cơ chế tự nhiên và xã hội trong con người là vô thức, đó là cái phi lý, hạtnhân của nhân cách. Nó biểu hiện sự mong muốn vươn tới cái phi lý, hạt nhân củanhân cách. Nó biểu hiện cho sự nhu cầu vươn tới cái hài hoà toàn diện của conngười. Sự tiến bộ xã hội là do tâm lý con người tạo ra. Ông đưa ra mô hình conngười mới giữa các đặc điểm sau:* Con người mới phải từ bỏ vật chất để sống thanh thản* Con người phải làm cho cuộc đời có ý nghĩa* Phải có lòng yêu thương và trân trọng đời sống* Phải trau dồi tình yêu thương vốn có* Phải khắc phục được tính tự yêu mình và chấp nhận tính chất hạn chếtrong cuộc sống con người.tuy nhiên, đây chỉ là con người trừu tượng, chung chung không thể thựchiện trong xã hội tư bản. Cái sai lầm của Fromm là dung hoà giữa quan niệm củaS.Freud và chủ nghĩa Mác. Sự thật không thể có cơ sở một cách tự nhiên nào do Freud tạo ralàm cơ sở cho chủ nghĩa Mác. Đồng thời, sự tiến bộ xã hội do động lực kinh tế

quyết định chứ không do yếu tố tâm lý nào như Fromm giải thích.1.2.2. Trường phái Gestalt về nhân cáchTâm lý học Gestalt hay còn gọi là tâm lý học cấu trúc nghiên cứu, xem xéthình ảnh tâm lý trong trong một cấu trúc trọn vẹn, hoàn chỉnh. Là trường pháichuyên nghiên cứu về tri giác và ít nhiều nghiên cứu về tư duy, nhân cách conngười. Nổi bật trong trường phái này là K.Lewin. Nếu như hầu hết các nhà tâm lýhọc Gestalt quan tâm đến vấn đề tri giác, tư duy thì K.Lewin lại quan tâm đến vấnđề động cơ, nhân cách và tâm lý học xã hội. Ông đưa ra thuyết trường tâm lý, chorằng con người luôn luôn tồn tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó.6

Ông quan tâm đến tiên trị âm và tiên trị dương trong cùng một không giansống. Tiên trị dương là nhằm thoả mãn những nhu cầu nào đó của cá nhân (như kẹovới đứa trẻ). Các khái niệm “trường tâm lý”, “không gian sống” thể hiện một phươngpháp mới miêu tả hành vi hiện thực của nhân cách. Về thuyết “trường tâm lý”, ôngcho rằng thế giới xung quanh ta là thế giới của các sự vật và có những trình tự nhấtđịnh, con người luôn luôn tồn tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó.Khái niệm “không gian sống” K.Lewin đưa ra nhằm giải thích hành vi củanhân cách, không gian sống bao gồm cả trường tâm lý. Ông cho rằng, nếu ta biết rõvề không gian sống của con người; có những thông tin về người ấy thì có thể dựđoán hành vi của người ấy. Lý luận và các công trình thực nghiệm của Lêvin vềkhông gian sống đã đưa ông chiếm một vị trí cao trong tâm lý học nhân cách. Cáckhái niệm “trường tâm lý”, “không gian sống” thể hiện một phương pháp mớimiêu tả hành vi hiện thực của nhân cách. Ông đã khám phá động lực của mối quanhệ cá nhân và hoàn cảnh, nhu cầu, nguyện vọng. Ông đã sơ đồ hoá các khái niệmtâm lý bằng trường không gian, địa thế, véctơ.Tuy vậy, lý luận về “ trường tâm lý ” và “không gian sống” cũng có nhữngđiều kiện mà không thể giải quyết được. Ví dụ ta không thể biết được cấu trúc vàkhông gian sống của một con người. Hoàn cảnh con người sống luôn thay đổi, do

đó không gian sống cũng thay đổi ngay. do đó, nếu dựa vào không gian sống thì khóđánh giá được nhân cách con người. Quan điểm của K.Lewin là quan điểm củatrường phái Gestalt mang cấu trúc trọn vẹn. Nhân cách được xét trong hoàn cảnh,trong nhóm, nhưng những quy định về chính trị, kinh tế đối với hành vi nhân cáchkhông được ông để ý đến một cách thoả đáng. do đó, lý luận nhân cách của ôngkhông tránh khỏi sự sơ lược trong quan niệm của Gestalt.1.2.3. Tâm lý học nhân văn về nhân cáchTrường phái tâm lý học nhân văn hình thành ở Mỹ như là một khuynhhướng đối lập với tâm lý học hành vi và phân tâm học. Nếu tâm lý học hành vi lấykhó khăn bên ngoài quyết liệt cho tâm lý con người thì phân tâm học lấy điềukiện bên trong làm nguyên tắc quyết định. Tâm lý học nhân văn khác với haikhuynh hướng trên là ở chỗ nó không tạo nên một bộ mặt lý luận thống nhất về7

nhân cách. Trường phái này là sự tổng hợp thường xuyên hướng mới và thường xuyên trường pháitư tưởng khác nhéu. Nhưng những nhà tâm lý học nhân văn đều có chung những tưtưởng là tôn trọng con người, tôn trọng những phẩm giá cá nhân về con người. Họcho rằng con người bẩm sinh là tốt và đề cao vai trò của hoài bão, khát vọng tự dotương đương có khả năng vươn tới cái tốt đẹp trong con người. Động cơ chính trong cuộcđời là khuynh hướng tự thể hiện mình, khuynh hướng này là bẩm sinh và khôngngừng thúc đẩy con người hướng đến vận hành, giúp họ tự thể hiện mình.Từ những quan điểm trên của trường phái tâm lý học nhân văn về nhân cáchcon người ta thấy tâm lý học nhân văn đã nhìn thấy được bản chất tốt đẹp trongcon người. Đề cao hoài bão và nỗ lực vươn lên của con người. Tuy vậy tâm lý họcnhân văn đã dựa vào những kinh nghiệm chủ quan để phân tích nhân cách conngười, quay về với truyền thống tôn giáo nên rơi vào quan điểm duy tâm phảnkhoa học. Con người được tâm lý học nhân văn quan niệm giống như kiểu ngườiđược mô tả trong văn chương, tôn giáo diễn tả kiểu tư duy ước ao, nhu cầu,không có những cơ sở thực tiễn để hiện thực hoá.

Người đầu tiên có công xây dựng nền tâm lý học nhân văn là A.Maslow(1908 – 1970) đã từng là chủ tịch hội tâm lý nhân văn đầu tiên ở Mỹ.Về nhân cách, ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quy trình nhận thức triệu chứngnhân cách và tiềm lực. Động cơ đẩy nhanh mạnh mẽ nhất là mong muốn. Theo ông cóthể chia ra năm loại mong muốn theo thứ tự từ thấp đến cao và nếu mong muốn cấp thấpkhông thoả mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể thực hiện được.mong muốn cấp cao: nhu cầu thực tiễn; nhu cầu được thực hiện; nhu cầu yêuthương, lệ thuộcmong muốn cấp thấp: mong muốn an toàn; mong muốn sinh lýMaslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người. Những nhucầu như giao tiếp, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng đặc trưng cho giốngngười. Các nhu cầu đều đặn dựa trên cơ sở di truyền nhất định. Chính Vì vậy, họcthuyết mong muốn của A.Maslow có những điểm giống học thuyết của S.Freud.1.2.4. Quan niệm về nhân cách của J.Piagiê8

J.Piagiê nhà tâm lý học Thuỵ Sỹ chủ yếu thống kê về tâm lý trẻ em, sựhình thành và phát triển trí tuệ, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Ông chorằng phải nghiên cứu cá nhân con người, đó là chủ thể của mối quan hệ xã hội.Khái niệm “cân bằng” là khái niệm trung tâm trong học thuyết về nhân cáchcủa ông. Ông sử dụng khái niệm “cân bằng” đề giải thích nguồn gốc của các cấu trúcthao tác. Nhờ có luật bù trừ mà có sự cân bằng trong tâm lý. Qua những công trìnhthống kê về trí tuệ trẻ em, ông đã rút ra những bài học quý về nhân cách. Đó làsự cân bằng tâm lý, tính tự kỷ trung tâm sơ khai và con đường phát triển nhâncách. Ông khẳng định giáo dục đúng đắn là yếu tố quan trọng nhất trong việc pháttriển nhân cách, cùng với nó là tôn trọng quyền con người.2. Quan điểm của các nhà tâm lý học Mác – xít về nhân cách2.1. Quan điểm của các nhà tâm lý học Xô Viết về nhân cách.Đứng trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tâm lý học

Mọi Người Xem :   Tê tê là con gì? Vảy tê tê có tác dụng gì? - IAS Links

Xô Viết đã cống hiến cho nhân loại những thành tựu to lớn, phong phú, đa dạng,không ai có thể phủ nhận. Đặc biệt là vấn đề nhân cách và cấu trúc nhân cách. Cácnhà tâm lý học theo quan điểm mác-xít đều đặn cho rằng khái niệm nhân cách phải làmột phạm trù xã hội chứ không thể thuần tâm lý. Dưới đây là một vài quan điểm vềnhân cách của các nhà tâm lí học Xô Viết được thừa nhận và dùng rộng rãi:2.1.1. Quan điểm của B.G.Ananhiev về nhân cách.B.G.Ananhiev đã xuất phát từ những khái niệm cá thể, chủ thể, khách thể,hoạt động, cá nhân để giải quyết vấn đề nhân cách. Ông cho rằng nhân cách là cáthể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của từng bước tiến lịch sử. Nhâncách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch sử. Sự phong phú của mốiquan hệ xã hội của cá nhân đã tạo nên những đặc điểm của nhân cách. Cấu trúcnhân cách được dần dần hình thành trong quá trình cá nhân vận hành trong mốiquan hệ xã hội. Vì vậy, những yếu tố sinh học không tác động trực tiếp trong mốiquan hệ, trong cấu trúc nhân cách mà nó ảnh hưởng gián tiếp với tư cách là yếu tố đãđược xã hội hóa, mang tính chất xã hội của nhân cách.Ông đưa ra cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc: Nguyên tắc thứ bậc vànguyên tắc phối hợp. Nguyên tắc thứ bậc là sự sắp xếp đặc điểm xã hội chung nhất9

quy định những đặc điểm tâm sinh lý. Nguyên tắc phối hợp là sự tác động qua lại giữacác thành phần độc lập tương đối và thành phần phụ thuộc. Theo B.G.Ananhiep, đểnghiên cứu con người với tư cách là nhân cách phải thống kê chiều hướng, tính cách,hành vi xã hội, động cơ hành vi, cấu trúc nhân cách, vị thế nhân cách, con đường sốngcủa nhân cách trong xã hội. Điều này đòi hỏi các nhà khoa học, tâm lý học, xã hộihọc, giáo dục học, đạo đức học phải quan tâm nghiên cứu. Ananhiev coi con người làtiểu vũ trụ. Điều này rất tương đồng với quan niệm phương Đông về con người. Conngười là tinh hoa của vũ trụ, trong con người có đại diện của quy luật vũ trụ.Như vậy, luận điểm của Ananhiev coi việc thống kê nhân cách là tổnghợp các khoa học thống kê về con người là một đóng góp quan trọng trong việc

chỉ hướng nghiên cứu nhân cách. thống kê nhân cách không tách rời việcthống kê con người và các khoa học khác thống kê về con người.2.1.2. Quan điểm của A.N.Lêônchiep về nhân cách.A.N.Leonchiev (1903 – 1979) là nhà tâm lý học Xô Viết kiệt xuất. Về mặtnhân cách, ông cũng có những quan điểm mới mẻ. Leonchiev coi nhân cách nhưmột cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong các quan hệ sống của cá nhân dokết quả hoạt động cải tạo của người đó. Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnhthể của chủ thể cuộc sống. Nhân cách là một cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn.Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sựtiến hoá cá thể của con người. Sự hình thành nhân cách là một quá trình riêngkhông trùng khớp với quy trình biến đổi các thuộc tính một cách tự nhiên của cá thể. Nhữngquá trình thần kinh của cá nhân sẽ không biến thành những thuộc tính nhân cách,mặc dù quy trình thần kinh sẽ không thiếu được trong quá trình hình thành nhâncách. Muốn hiểu nhân cách phải dựa vào vận hành của chủ thể để phân tích hoạtđộng là cơ sở của nhân cách. Việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát từ sự pháttriển của vận hành, những loại hình chi tiết của vận hành và mối liên hệ của nhâncách đó với những người khác.Quan điểm của A.N.Lêônchiep về động cơ, xúc cảm và nhân cách: Trướchết ông đưa ra cách hiểu sự hình thành nhu cầu của con người theo sơ đồ vận hành- mong muốn – vận hành, luận nơi này cho rằng mong muốn của con người cũng được10

sản xuất ra. nhu cầu được phân tích về mặt tâm lý sẽ dẫn tới phân tích động cơ. Ôngchia ra hai loại động cơ: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích. Động cơ tạo ý gắnliền với nhân cách. Động cơ tạo ý ở cấp cao hơn so với động cơ kích thích, song cókhi nó không tham gia vào kích thích, thúc đẩy vận hành mà khuất đằng sau kíchthích. Tiền đề của sự hình thành nhân cách là sự phát triển của quá trình hình thànhmục đích và phát triển những hành động của chủ thể tương ứng gắn với mục đích.Sự hình thành nhân cách là một quá trình liên tục gồm các giai đoạn tuần tự thay thế

nhau, làm thay đổi tiến trình sự phát triển tâm lý sau này. Nền tảng của nhân cách làsự phong phú của mối quan hệ giữa cá nhân với thế giới. Trong mối quan hệ nàycon người phải hoạt động bao gồm hoạt động lý luận và vận hành thực tiễn. Điềucuối cùng mà A.N.Leonchiev bàn đến là vấn đề con người tự ý thức mình là mộtnhân cách. Đó là quá trình phát triển ý thức bản ngã. Ý thức cá nhân không chỉ làkiến thức, hệ thống ý nghĩ, hoặc các khái niệm thu nhận được mà còn là sự vận độngbên trong phân biệt sự hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình.Tóm lại, trung tâm trong quan điểm chủ yếu về nhân cách của Leonchiev làlấy vận hành làm cơ sở của nhân cách . Vì vậy, phải lấy hoạt động để phân tích,biện giải hiện tượng nhân cách. Khi phân tích nhân cách phải kể đến động cơ, nhucầu, mục đích và hành động của cá nhân trong hoạt động. Có như vậy mới có thểtách bạch được những cấp độ khác nhau: Cấp độ sinh vật, cấp độ tâm lý với tưcách là chủ thể và cấp độ xã hội, ở đó con người thực hiện những quan hệ xã hộitrong thống kê của mình. Đây là một đóng góp to lớn của A.N.Leonchiev.2.1.3. Quan niệm của K.K.Polatonov về nhân cáchộ khẩu.K.Polatonov đưa ra đinh nghĩa nhân cách như sau: “nhân cách là mộtcon người cụ thể như là một chủ thể cải tạo thế giới trên cơ sở nhận thức, thểnghiệm thế giới, trên cơ sở quan hệ với thế giới đó”, ta có thể diễn đạt tư tưởng đóngắn gọn hơn: “nhân cách là con người mang ý thức”. Ý thức không phải là mộtthực thể thụ động mà là một hình thức phản ánh bậc cao chỉ có ở người. Đứa trẻmới ra đời chưa có ý thức. Nhân cách sẽ hình thành trong giao tiếp với người khác.Có nhân cách tiến bộ và nhân cách phản động, nhân cách đúng mực và nhân cáchốm yếu. Ông cho rằng không thể xác định được lúc nào thì con người hình thành11

nhân cách. Theo K.K.Polatonov, cấu trúc tâm lý chức năng cơ động của nhân cáchgồm bốn cấu trúc nhỏ được xác định bằng bốn phạm trù sau đây.* Tính cần và đủ để đưa toàn bộ các yếu tố, các nét của nhân cách vào bốncấu trúc ấy.

* Sự thừa nhận nhân cách phân loại các thuộc tính cá nhân và các kháiniệm tâm lý về phương diện thực tế.* Tỉ lệ nghịch của độ chênh lệch tính chế ước xã hội và tính chế ước sinhvật của các thuộc tính cá nhân riêng biệt và những cấu trúc nhỏ thống nhất nhữngthuộc tính ấy.* Tính chất chuyên biệt của các loại quan hệ trong sự hình thành mỗi cấutrúc nhỏ.Liên quan đến bốn phạm trù trên có bốn cấu trúc nhỏ: Cấu trúc nhỏ thứnhất là xu hướng (lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…); cấu trúc nhỏ thứ hai là kinhnghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tập tính); cấu trúc nhỏ thứ ba là các quy trìnhtâm lý; cấu trúc nhỏ thứ tư là các thuộc tính sinh học quy định nhân cách (khí chấtnam hay nữ, lứa tuổi, bệnh lý…). Ngoài cấu trúc kể trên, theo K.K.Polatonov, nhâncách con người còn ở thuộc tính khác là tính cách và tiềm lực. Tính cách cũng nhưnăng lực là tổng hoà các thuộc tính xuất hiện trong sự tương ứng với vận hành. Tính cáchvà năng lực cá nhân tương hỗ với nhéu. Trong một mức độ nào đó, tiềm lực biểuhiện ra và trở thành tính cách.Tóm lại quan điểm của K.K.Polatonov là một đóng góp mới cho việc giảiquyết vấn đề nhân cách. Hệ thống chức năng cơ động, bốn tiểu cấu trúc của nhâncách, tính cách và năng lực là các thuộc tính của nhân cách đã làm sáng tỏ thêmvấn đề nhân cách. mặc khác trong khi khẳng định nhân cách là con người có ýthức, ông đã không thấy được sự tham gia của vô thức trong hành vi con người.Thêm nữa, xã hội đóng vai trò quyết liệt như thế nào đối với nhân cách, chúng tacũng chưa thấy rõ.2.1.4. Luận điểm của trường phái Uzơnatze về nhân cách.Để hiểu con người với tư cách là nhân cách, D.Uzơnatze đã phân chia tínhtích cực tâm lý của con người ra ba cấp độ. Con người với tư cách là cá nhân đó là12

cấp độ đầu tiên, thấp nhất. Cấp độ thứ hai, con người với tư cách là chủ thể. Cấp

độ thứ ba phức tạp và cao nhất con người với tư cách là nhân cách.Theo quan niệm này, cá nhân, chủ thể, nhân cách là sự thể hiện ở ba mứcđộ khác nhéu của tâm thế con người. Ở mức độ thứ nhất, tâm thế quan hệ nhiềuđến mong muốn sinh vật; ở mức độ thứ hai, tâm thế có quan hệ đến quá trình tư duy đểnhận thức hoàn cảnh; ở mức độ thứ ba, tâm thế quan hệ đến ý chí và định hướngtổng giá trị. Quan điểm trên đã đóng góp nhiều kiến thức quý cho vấn đề nhân cách.Song những vấn đề về tâm lý và nhân cách nếu chỉ dựa vào tâm thế để phân tích làchưa đủ. Tâm lý và nhân cách con người vô cùng phong phú và phức tạp, liên quanđến nhiều khoa học khác nhéu.2.1.5. Cách tiếp cận của X.L.Rubinstein về nhân cách.Trong các công trình thống kê của mình, Rubinstein đi từ các phạm trùtinh thần, ý thức, chủ thể… đến phạm trù nhân cách, coi nhân cách là các trảinghiệm và đi vào vấn đề hình thành và phát triển nhân cách trong hoạt động.Rubinstein đã nhấn mạnh tính chất đặc thù của riêng từng nhân cách, nói lên xuhướng riêng của người ấy, bao gồm ý hướng, ý muốn của từng người, tiềm lực củatừng người, bản tính của nó. Nội dung này gắn liền với cái gọi là ý thức của chủthể và các thái độ: thái độ đối với thế giới xung quanh, thái độ đối với người khácvà thái độ đối với bản thân. Rubinstêin coi nhân cách là bộ máy điều chỉnh toàn bộhệ thống thân thể con người nói chung, gắn liền với khái niệm đường đời.Rubinstein đi từ một nhận xét triết học cho rằng toàn bộ tâm lý học người được coilà tâm lý học nhân cách, coi tất cả các hiện tượng tâm lý được mô tả trong tâm lýhọc đại cương đều diễn ra trong nhân cách và đều phụ thuộc vào sự phát triển củanhân cách. Nhân cách ở đây được hiểu là các đặc điểm cá thể riêng từng người.Nhân cách cũng được hiểu là khả năng con người điều khiển các quy trình haythuộc tính tâm lý của bản thân, hướng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ đặt racho bản thân. Từ đó muốn hiểu nhân cách là gì phải xem con người mang nhâncách ấy có chiều hướng gì, có thể phục vụ mong muốn đó không, vấn đề nghĩavà ý của cuộc đời, của từng công việc. Từ đây, Rubinstein đến rất gần với cách tiếp13

Mọi Người Xem :   So sánh du lịch tự túc và du lịch theo tour | Đâu là lựa chọn tốt nhất?

cận của Uzơnatze về nhân cách, tức là ông thấy trong nhân cách có các thành phầngọi là hứng thú, sự đam mê, tâm thế tạo nên các xu hướng, lý tưởng của nhân cách.Như vậy, Rubinstein đã chỉ ra cho chúng ta thấy quy trình hình thành ýthức và thái độ như là hai thành tố tạo nên nhân cách. Ông đã cho thấy nghiêncứu nhân cách là nghiên cứu tự ý thức của nhân cách, thống kê “cái tôi” như làchủ thể nắm lấy tất cả cái gì con người làm ra, có trách nhiệm của bản thân đối vớitất cả các danh mục vật chất mà mình tạo ra. Rubinstein cũng đã đề cập đến nhân cáchnhư là bộ mặt của từng người, nói lên lập trường thế giới quan của người ấy.Nhìn lại những chiều hướng, quan điểm thống kê về nhân cách của một sốnhà Tâm lý học Xô Viết tiêu biểu trên, ta có thể thấy:Các luận điểm xuất phát để giải quyết vấn đề nhân cách đều dựa trên lậptrường duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin.Có thường xuyên luận điểm khác nhéu, bổ sung cho nhau, làm đa dạng và đadạng cho lý luận nhân cách.Tuy chưa có cách diễn đạt thống nhất, nhưng các nhà tâm lí học Xô Viếtđều đặn thống nhất với nhau ở những quan điểm sau: nhân cách là một hệ thống cácquan hệ của con người đối với thế giới xung quanh và với bản thân, nhân cách sinhthành là do hoạt động, nó có tính xã hội – lịch sử. Cá nhân con người trở thànhnhân cách là do các vận hành và giao lưu của nó trong cộng đồng, trong xã hội.Khi một cá nhân với tư cách là là thành viên của một cộng đồng nhất định ở một xãhội nhất định, là chủ thể của các quan hệ xã hội, của vận hành ý thức và giao lưuthì được coi là một nhân cách .2.2. Quan điểm của các nhà Tâm lý học Việt Nam về nhân cách.Đứng trên lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vàquan điểm của Đảng, các nhà Tâm lý học Việt Nam đã tiếp thu có chọn lọc các lýluận về nhân cách của Tâm lý học Xô Viết và áp dụng linh động, sáng tạo trongkhó khăn thực tiễn Việt Nam.Theo Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc quan niệm: Nhân cách là hệ thốngthái độ của con người. Là thước đo độ phù hợp của phẩm chất, tiềm lực con người

với bắt buộc xã hội, độ phù hợp càng cao thì nhân cách càng phát triển.14

Còn theo tác giả Lê Đức Phúc: Nhân cách là cấu tạo tâm lý phức tạp baogồm thường xuyên thuộc tính tâm lý cá nhân, được hình thành và phát triển trong cuộcsống và vận hành, quy định giá trị xã hội của mỗi người.Theo tác giả Trần Trọng Thủy: Nhân cách là toàn bộ đặc điểm phẩm chấttâm lý quy định toàn bộ đặc điểm và hành vi xã hội của cá nhân.Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn Tâm lý học nhân cách thì ởnước ta, chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống. Song cáchhiểu của người Việt Nam về nhân cách có khả năng theo các mặt sau đây:* Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và nănglực hoặc là con người có các phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động).* Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và tiềm lực của con người* Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ, yêunước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động.* Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, tổng giá trị làm người của con người.Theo cách hiểu này, tác giả Nguyễn Quan Uẩn trong cuốn tâm lý học đại cương(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004) đã nêu lên định nghĩa nhân cách như sau:Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểuhiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.Đây là định nghĩa về nhân cách được chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam.Trên cơ sở định nghĩa này, các nhà Tâm lý học Quân sự Việt Nam (trongcuốn Tâm lý học quân sự xuất bản năm 2005) đã đưa ra khái niệm về nhân cách:Nhân cách là tổng hoà các phẩm chất xã hội, được cá nhân lĩnh hội trong hoạtđộng và giao tiếp, phản ánh giá trị xã hội của cá nhân đó trong cộng đồng.Như vậy, nhân cách là sự tổng hòa nhưng không phải tổng hòa những đặcđiểm của con người, mà là tổng hòa những đặc điểm quy định con người như làmột thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý xã hội, tổng giá trị và cốt cách làm

người của mỗi cá nhân.Những quan điểm của các nhà Tâm lý học Việt Nam cũng đều thống nhấtthừa nhận, nhân cách là tính xã hội của con người, nhân cách mang bản chất xã15

hội, nó không phải được nảy sinh mà được hình thành và phát triển trong quá trìnhcon người tham gia hoạt động vào các mối quan hệ xã hội.Trên cơ sở này, khoa học tâm lý đã chỉ ra các con đường cơ bản trong xâydựng, hình thành và phát triển nhân cách là: giáo dục, hoạt động, giao lưu và nhóm.* Giáo dục: đây là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thànhvà phát triển nhân cách theo những bắt buộc của từng giai đoạn xây dựng và pháttriển xã hội đó.Giáo dục vạch ra mô hình nhân cách theo yêu cầu của xã hội đồng thờicũng chỉ ra chiều hướng hình thành và phát triển nhân cách.. Điều này được thựchiện thông qua mục tiêu giáo dục và qua sự thực hiện mục tiêu đó của các bộ phậngiáo dục trong và ngoài nhà trường.Giáo dục có khả năng đưa lại cho trẻ em những yếu tố khác với môi trường tựnhiên hoặc yếu tố bẩm sinh.Giáo dục có thể bù đắp cho những thiếu hụt ở một người do bị tật hay bịbệnh nào đó gây ra ra.Giáo dục có khả năng uốn nắn những phẩm chất tâm lí của một người theo yêucầu của xã hội.Giáo dục có khả năng chuẩn bị cho con người vươn tới tương lai mà với nhữngđiều kiện Hiện tại mà nó chưa thể có được.Giáo dục và dạy học một cách khoa học đảm bảo sự hình thành và pháttriển tâm lí, nhân cách của trẻ em theo hướng tốt đẹp* vận hành chính là nhân tố quyết liệt trực tiếp việc hình thành và pháttriển nhân cách của con người. Chúng ta biết rằng tâm lí không chỉ biểu hiện trongvận hành, mà còn hình thành và phát triên bằng vận hành. do đó, nhân cách con

người chúng ta cũng được hình thành và phát triển bằng vận hành.hoạt động của con người là vận hành có mục đích và bao giờ cũng mangtính tập thể, tính cộng đồng, vận hành của con người bao giờ cũng được thực hiện16

bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định. do đó mỗi vận hànhbao giờ cũng bắt buộc con người những phẩm chất và năng lực nhất định thì mớithực hiện được. Chính trong quá trình tham gia trực tiếp hoạt động đó mà conngười hình thành và phát triển được những phẩm chất năng lực này.Từ mối quan hệ mật thiết giữa hoạt động và nhân cách như thế chúng tahiểu rằng, giáo dục muốn đạt được mục đích của mình thì trước hết phải tổ chứccho trẻ em tham gia những hoạt động nhất định.Nhưng vận hành của con người luôn mang tính xã hội tính cộng đồng. Vìvậy hoạt động luôn đi với giao lưu. Vì vậy đương nhiên giao lưu là một con đườngtrong sự hình thành và phát triển nhân cách.* Giao lưu (giao tiếp) là sự tiếp xúc giữa hai hay thường xuyên người để trao đổivới nhau những thông tin rất cần thiết. Giao lưu tạo ra các quan hệ người – người, cácquan hệ xã hội. Nếu với xã hội, giao lưu là một khó khăn tồn tại và phát triển củanó, thì đối với cá nhân, giao lưu cũng có vai trò như thế. Không có sự giao lưu vớingười khác, cá nhân không phát trỉên được tâm lí, ý thức của mình, không thể trởthành một nhân cách. Sự phát triển của một cá nhân được qui định bởi sự phát triểncủa tất cả các cá nhân khác mà nó giao lưu một cách trực tiếp hay gián tiếp với họ.Trong quá trình giao lưu, con người ta không những nhận thức những ngườikhác, mà còn nhận thức chính bản thân mình với những cái mà họ nhận ra được ởmình so với những cái họ thấy được ở những người khác. Trong giao lưu, sự tiếpxúc về mặt tình cảm là rất quan trọng. Và điều đó chỉ có khi mà bản thân nhữngngười đối thoại có thể hiểu được nhéu và đồng cảm với nhau. Đây là tính chấtđối lưu của sự tiếp xúc. mong muốn giao lưu là một trong số những mong muốn xã hội cơ bảnvà xuất hiện sớm nhất ở con người. Việc thoả mãn nhu cầu giao lưu một cách đúng

đắn sẽ làm cho tâm lí, ý thức con người phát triển, nhân cách được hình thành.* Nhóm và tập thể: nhân cách con người hình thành trong môi trường xãhội. Nhưng con người lớn lên và trở thành nhân cách không phải đơn thuần trong

17

môi trường xã hội chung chung và trừu tượng. Môi trường xã hội chi tiết, gần gũicủa nó chính là các nhóm và cộng đồng, là các tập thể mà nó là thành viên.Ngày nay vấn đề nhân cách được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu.Trong quá trình phát triển của các khoa học, đặc biệt là các khoa học xã hội đòi hỏiphải thống kê nhân cách.Trong xã hội mọi người có quan hệ lẫn nhau, con ngườilà trung tâm của các mối quan hệ. do đó, con người phải được thể hiện như là mộtnhân cách. Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền với việcxây dựng nhân cách phát triển hài hòa. Đó là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp xâydựng con người đạo đức – trí tuệ trong khó khăn đổi mới hiện nay. “Muốn xâydựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”.thống kê nhân cách sẽ tạo điều kiện ảnh hưởng tới các khoa học có liên quanđến con người: Triết học, xã hội học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, luật học, yhọc, giáo dục học, tâm lí học… do đó nhân cách cũng là đối tượng thống kê củacác khoa học đó.Với việc tiếp cận phạm trù nhân cách theo quan điểm của tâm lý học mác-xít cho chúng ta thấy một bức tranh tổng quát và đầy đủ nhất về nhân cách từnguồn gốc, bản chất cũng như các yếu tố tác động, ảnh hưởng, con đường hìnhthành nhân cách. Đặc biệt với phương pháp tiếp cận này cho chúng ta một phươngpháp luận khoa học trong việc xem xét, luận giải phạm trù nhân cách theo quanđiểm duy vật, biện chứng triệt để. Với những tác giả lỗi lạc và những công trìnhthống kê đa dạng, đa dạng và chuyên sâu trên các mặt nhân cách, các nhàTâm lý học Xô Viết đã có sự cống hiến to lớn đối với nền tâm lý học thế giới.Những thành tựu đó không chỉ có ý nghĩa ở thời điểm đó mà nó còn có giá trị định

hướng cho sự thống kê, ứng dụng về nhân cách ở cả Hiện tại và tương lai.TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Đọc thêm: Barry D.Smiith – Harold J.Vtter. Các học thuyết về nhân cách.Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2005, tr.47 -115.

18

2. Nguyễn Ngọc Bích, Tâm lý học nhân cách, Nxb Đại học Quốc gia HàNội. 2000.3. Đào Thị Oanh (chủ biên), Vấn đề nhân cách trong Tâm lý học ngày nay,Nxb Giáo dục, Hà Nội. 2007.5. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Quốcgia Hà Nội. 2004.6. Phạm Minh Hạc – Lê Đức Phúc (chủ biên), một vài vấn đề thống kênhân cách, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2004.8. Nguyễn Quang Uẩn – Nguyễn Thạc – Mạc Văn Trang, giá trị – Địnhhướng tổng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị, Đề tài KX-07-04, Hà Nội. 1995.9. A.N.Leonchiev (1989), hoạt động – ý thức – Nhân cách, Nxb GD.10. Phan Trọng Ngọ, Các lý thuyết phát triển tâm lý người. Nxb GD11. Phạm Minh Hạc, Tuyển tập Tâm lý học, Nxb CTQG, H 2006.

19



Các câu hỏi về tâm lý học mácxít là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê tâm lý học mácxít là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết tâm lý học mácxít là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết tâm lý học mácxít là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết tâm lý học mácxít là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về tâm lý học mácxít là gì


Các hình ảnh về tâm lý học mácxít là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tìm thêm dữ liệu, về tâm lý học mácxít là gì tại WikiPedia

Bạn có thể tìm nội dung về tâm lý học mácxít là gì từ web Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

💝 Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

💝 Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/