Quá trình bệnh lý

Bài viết Quá trình bệnh lý thuộc chủ đề về Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://buyer.com.vn/hoi-dap/ tìm hiểu Quá trình bệnh lý trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “Quá trình bệnh lý”

Đánh giá về Quá trình bệnh lý


Xem nhanh
#tuyengiap #utuyengiap

Tuyến giáp là tuyến nội tiết quan trọng của cơ thể. Nó tiết ra các hormone giúp điều hoà các hoạt động chuyển hoá cơ bản nhất của cơ thể. Bất cứ sự rối loạn nào về tiết hormon của tuyến giáp đều sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của cơ thể bạn. Tuy nhiên, các biểu hiện về rối loạn chức năng tuyến giáp thường nhầm lẫn với các dấu hiệu bệnh lý khác và có thể bị bỏ sót nên khiến cho việc thăm khám và điều trị trở nên khó khăn hơn.

Trong video dưới đây, ThS. BS Lê Thị My, Giám đốc trung tâm bệnh lý tuyến giáp, Bệnh viện Vinmec Times City sẽ điểm mặt các dấu hiệu cảnh báo u tuyến giáp cho bạn và người thân cần lưu ý nhé.

Các rối loạn về chức năng của tuyến giáp chia thành 2 nhóm chính phổ biến nhất hiện nay là cường giáp và suy tuyến giáp. Trong đó:

Cường giáp xảy ra khi tuyến giáp hoạt động quá mức, tiết quá nhiều hormone. Nguyên nhân cường giáp có thể do rối loạn nội tiết, do bệnh Basedow thường gặp ở phụ nữ từ 30-50 tuổi, hoặc do sử dụng quá liều iod trong quá trình điều trị bệnh.

Suy giáp là bệnh tự miễn xảy ra khi tuyến giáp hoạt động kém, suy yếu. Nguyên nhân suy giáp có thể do người bệnh đã từng cắt bỏ tuyến giáp, thiếu iod, sử dụng thuốc kháng giáp trạng hoặc do thay đổi nội tiết tố.

Cả hai tình trạng trên nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của sức khỏe, nhất là chức năng hoạt động của tuyến giáp, thậm chí có thể dẫn đến bệnh ung thư tuyến giáp.Các dấu hiệu nhận biết của tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp:

Bướu cổ/ Cổ to có thể đi kèm với tình trạng nuốt nghẹn, nuốt vướng hoặc khó thở.

Hội chứng viêm cánh tay, đau cơ khớp: bạn sẽ thấy tê ngứa cánh tay do lượng hormone tín hiệu bị thiếu dẫn đến việc não gửi thông tin đến các cơ chậm hơn bình thường. Còn đối với cường giáp, người bệnh rất dễ bị cứng khớp và khó phối hợp các chi.

3. Tóc và da suy yếu: Khi bạn bị suy giáp, tóc sẽ giòn, xơ, dễ gãy và da trở nên khô, bong tróc và dễ bị lạnh. Nguyên nhân là do rối loạn hormone giáp làm tóc khó tăng trưởng. Ngược lại người bệnh cường giáp da thường nhạy cảm với nóng, ra nhiều mồ hôi.

4. Rối loạn kinh nguyệt và có nguy cơ bị vô sinh:

Suy giáp ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề kinh nguyệt. Suy giáp có thể bị rong kinh, đa kinh. Ngược lại cường giáp có thể gây vô kinh hoặc ít kinh (kỳ kinh ngắn hơn). Tình trạng này là do nồng độ hormone thay đổi, gây ảnh hưởng đến kinh nguyệt, và làm thay đổi chu kỳ kinh. Từ đó khiến các nang trứng cũng bị rối loạn theo, khiến quá trình thụ tinh và sinh con trở nên khó khăn.

5. Giảm ham muốn

Các bệnh về tuyến giáp đều liên quan trực tiếp đến hormone. Vì thế nếu bệnh phát triển lâu dài sẽ làm mất cân bằng nội tiết tố estrogen, khiến người bệnh không còn ham muốn và vô sinh. Bệnh tuyến giáp đặc biệt có tác động tới kinh nguyệt cũng như chu kỳ rụng trứng.

6. Gặp vấn đề về đường ruột:

Hormon tuyến giáp ảnh hưởng tới hầu hết các bộ phận trong cơ thể và hệ tiêu hóa cũng không phải ngoại lệ. Đối với người bị bệnh suy giáp thì sẽ dễ bị táo bón còn người bị cường giáp thì thường bị tiêu chảy và đau bụng.

7. Những thay đổi về hệ tim mạch:

Hormone từ tuyến giáp có ảnh hưởng lớn đến vấn đề tim mạch, dẫn đến tình trạng kích thích làm tăng giảm nhịp tim và sức bơm máu. Nếu bạn bị cường giáp khiến huyết áp tăng và nhịp nhanh, người bệnh có cảm giác hồi hộp đánh trống ngực. Ngược lại suy giáp khiến nhịp tim giảm.

8. Mệt mỏi, trầm cảm và lo âu:

Khi mắc các bệnh về tuyến giáp, hormone bị suy giảm do đó cơ sẽ không được thúc đẩy và gây ra tình trạng mệt mỏi. Đặc biệt, cường giáp còn có thể khiến bạn mất ngủ hoặc ngủ không sâu giấc. Serotonin là một loại hormone có tác dụng giúp cơ thể cảm thấy thoải mái, vui vẻ. Việc sản xuất quá ít hormone tuyến giáp có thể gây ảnh hưởng đến lượng serotonin trong não. Do đó, khi tuyến giáp hoạt động không tốt, lượng serotonin trong não bị giảm đi, khiến bạn luôn cảm thấy chán nản và mệt mỏi.

9. Cân nặng thay đổi

Khi bị cường giáp, các quá trình chuyển hoá diễn ra quá mức khiến bạn gầy sút cân nhiều cho dù không thay đổi chế độ dinh dưỡng hoặc thậm chí còn ăn nhiều hơn. Còn với suy giáp, bạn không có cảm giác muốn ăn và dù không ăn bạn vẫn có xu hướng tăng cân.

Bệnh lý tuyến giáp hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu bạn phát hiện và điều trị kịp thời. Vì vậy, bên cạnh việc kiểm tra sức khỏe định kỳ,bạn có thể tự kiểm tra tuyến giáp tại nhà để phát hiện những thay đổi sớm nhất của tuyến giáp nếu có nhé.

Đăng ký Tư vấn sức khỏe từ xa tại
http://vinmec.com/?telehealth
Ấn “Đăng kí” để theo dõi các video mới nhất về sức khỏe tại đây.
https://www.youtube.com/channel/UCuqt...
Liên hệ với Vinmec:
Fanpage: https://www.facebook.com/Vinmec/
Website: https://www.vinmec.com
Hệ thống bệnh viện:
https://www.vinmec.com/vi/danh-sach/c...
------------------------
Bản quyền thuộc về Vinmec
Copyright by Vinmec ☞ Do not Reup

NGUYỄN HỮU MÔ

I- CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH SINH LÝ BỆNH

Bệnh tật là một quá trình thường diễn qua 4 giai đoạn:- Giai đoạn ủ bệnh (nung bệnh).- Giai đoạn tiền chứng (khởi phát).- Giai đoạn toàn phát.- Và giai đoạn kết thúc.1. Giai đoạn ủ bệnh:Giai đoạn ủ bệnh bắt đàu từ lúc nhân tố gây bệnh ảnh hưởng lên cơ thể tới khi triệu chứng bệnh lý đầu tiên xuất hiện.Trong giai đoạn này, có khả năng thích ứng của cơ thể còn mạng, nên chưa sinh ra rối loạn, cơ thể hoạt động hầu như bình thường. Nếu sức đề kháng mạnh, tiêu diệt được nhân tố gây bệnh thì bệnh sẽ không phát sinh.Giai đoạn nung bệnh dài hay ngắn là tùy loại bệnh: có khi chỉ trong nháy mắt (dòng điện mạnh), có khi và phút (một liều thuốc độc mạnh), vài ngày (bệnh sởi từ 6- 13 ngày), vài tháng (bệnh dại từ 1-2 tháng) thậm chí có khi hàng năm (bệnh hủi). mặt khác, đối với từng bệnh, giai đoạn ủ bệnh không cố định khi dài khi ngắn :thương hàn từ 7- 28 ngày, quai bị từ 2-30 ngày, uốn ván từ 1- 40 ngày…Giai đoạn ủ bệnh dao động như vậy là phụ thuộc vao:- Số lượng mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể thường xuyên hay ít, độc tính mạnh hay yếu, thời gian tiết ra độc tố nhénh hay chậm, nơi mầm bệnh xâm nhập có gần nơi cư trú của mầm bệnh không (thí dụ: bệnh dại khi bị chó dại cắn vào mặt thường giai đoạn ủ bệnh ngắn hơn khi bị cắn vào chân), đường truyền bệnh (thí dụ bệnh bạch hầu thể hầu có thể ủ bệnh ngắn hơn hoàn toànể da, thể mắt)…- Tính phản ứng của cơ thể mạnh hay yếu, khả năng thụ bệnh cao hay thấp, tính miễn dịch, khả năng sản xuất kháng thể mạnh hay yếu…Giai đoạn ủ bệnh không có giá trị về mặt lâm sàng, song về dịch tễ học lại rất quan trọng : ở một số lớn bệnh, bệnh nhân bài tiết ra mầm bệnh và có khả năng truyền bệnh cho người xung quanh ngay trong giai đoạn ủ bệnh. Giai đoạn ủ bệnh còn là căn cứ để:- Bao vây ổ dịch.- Cách ly và theo dõi những người tiếp xúc với bệnh nhân.- Chẩn đoán bệnh, tìm nguồn lây bệnh, xác định không gian và thời gian lây bệnh.2. Giai đoạn tiền chứng:Giai đoạn này bắt đầu từ lúc triệu chứng bệnh lý đầu tiên xuất hiện tói khi bệnh toàn phát. Giai đoạn này dài hay ngắn tùy theo từng bệnh. Có bệnh khởi phát từ từ, nặng dần nên như thương hàn, ho gà, có bệnh khởi phát đột ngột như cúm, viêm màng não… Trong giai đoạn tiền chứng, mầm bệnh tăng sinh rất mạnh (trong thường xuyên bệnh, kiểm tra máu bệnh nhân thường thấy có vi sinh vật), khả năng thích ứng bị han chế, tính phản ứng của cơ thể đã thay đổi, nên đã bắt đầu nảy sinh một vài rối loạn nhẹ, chủ yếu là những sự thay đổi ngay của hoạt động thần kinh cao cấp và thay đổi ngay chuyển hóa nhiệt: bệnh nhân cảm thấy sốt, mệt mỏi nhức đầu, đau mình, sợ gió, đắng miệng, biếng ăn, nôn ọe, đi táo hoặc ỉa lỏng; nói chung chưa có triệu chứng gì đặc biệt để giúp ta chuẩn đoán ngay ra bệnh. Đó là một trở ngại lớn cho vấn đề phát hiện sớm để phòng bệnh tốt, nhất là về mặt lây truyền, đó là thời kì lây mạnh nhất, như trong các bệnh do virut.Trong giai đoạn tiền chứng, đôi khi có khả năng xuất hiện một vài triệu chứng đặc hiệu của bệnh: thí dụ trong giai đoạn tiền chứng của sởi, bệnh nhân thường hay chảy nước mắt, sổ mũi, ho, sốt và ở niêm mạc miệng xuất hiện những chấm trắng nhờ đó ta có khả năng chuẩn đoán được bệnh. Trong giai đoạn tiền chứng, nếu sức đề kháng mạnh, bệnh có khả năng kết thúc ở giai đoạn này. Nếu có khả năng thích ứng kém. bệnh sẽ tiến vào giai đợn toàn phát.3. Giai đoạn toàn phát:Thường tới giai đoạn này, các triệu chứng chính của bệnh mới xút hiện đầy đủ, rõ nét. Chuẩn đoán quyết định chủ yếu ở gai đoạn này. Giai đoạn toàn phát có khả năng bắt đầu từ từ (thương hàn, lao kê…). Hoặc đột ngột (viêm phổi, sốt hồi quy…). thường xuyên bệnh nhiễm trùng có một giai đoạn toàn phát nhất định: viêm phổi trong 9 ngày, sởi trong 8- 10 ngày, sốt phát bang trong 13-16 ngày. Trái lại có một số bệnh nhất là các bệnh mãn tính, không có kì hạn nhất định: sốt rét, hủi, giang mai….Trong các bệnh nhiễm trùng , nếu giai đoạn tiền chứng là giai đoạn của những triệu chừng nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân, là giai đoạn thường mới ở trong máu thì sang giai đoạn toàn phát, mầm bệnh đột nhập vào những nội tạng nhất định tùy theo hướng tính của nó: thí dụ trong viêm gan truyền nhiễm thì virut đột nhập vào gan, trong bại liệt thì virut đột nhập vào tế bào vận động của sừng trước… vì thế, trong giai đoạn toàn phát bên cạnh hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc ngày càng nặng ta thấy xuất hiện thêm những triệu chứng tổn thương bộ phận có tinh chất đặc hiệu của từng bệnh.Giai đoạn toàn phát là giai đoạn mà bệnh có khả năng gây biến chứng. Đây là giai đoạn nguy hiểm nhất của bệnh và thương chết trong giai đoạn này.Dựa vào tính chất và thời gian diễn biến của bệnh, người ta thường phân biệt ba thể bệnh:a) Thể cấp tính: kéo dài từ vài ngày tới 2-3 tuần, triệu chứng rõ rệt, dễ sinh ra biến chứng, trừơng hợp này thường gặp trong một số bệnh truyền nhiễm cấp tính (thương hàn, tả dịch…)b) Thể bán cấp tính: kéo dài từ 3-6 tuần, triệu chứng cũng khá rõ song lại kém phần ác liệt (viêm màng trong tim).c) Thể mãn tính: Kéo dài trên 6 tuần, diễn biến từ từ, có thể kế tục thể cấp tính, triệu chứng thường không rõ nét, song nếu cứ để bệnh tiến triển, có thể gây ra ra những hệ lụy tai hại (giang mai, hủi, đái đường..).Cần chú ý là một bệnh cấp tính có thể trở nên mãn tính; trái lại, một bệnh mãn tính đôi khi lại có biểu hiện cấp tính: thí dụ lỵ amip cấp tính điều trịn không tốt có khả năng trở thành mãn tính và khi sức đề kháng của cơ thể Giảm (lao lực quá độ, ăn uống thất thường…), lỵ mãn tính có thể gây ra ra một đợt cấp tínhTùy theo mầm bệnh (độc tính, số lượng mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể) và sức chống đỡ của cơ thể, có khả năng sinh ra thường xuyên thể lâm sàng khác nhau:a) Thể điển hình rõ rệt: Thể bệnh thường gặp, bệnh tiến triển qua các giai đoạn điển hình, phát sinh những rối loạn chức năng và tổn thương thực thể rõ nét song vẫn còn có khả năng hồi phục được (do sức đề kháng của cơ thể còn tốt).b) Thể không điển hình : (thể nhẹ, thể cụt) trong trường hợp này, sức chống đỡ của cơ thể chiếm ưu thế. Không có những rối loạn chức năng và tổn thương thực thể nặng. Thể không điển hình thường xuất hiện ở những cơ thể đã có chút ít miễn dịch hoặc khi mầm bệnh có độc tính yếu xâm nhập vào cơ thể với số lượng ít. Thí dụ trong sốt rét không điển hình, sốt nhẹ không thành cơn rõ nét, bệnh nhân chỉ ớn lạnh, mỏi mệt, váng đầu. Những bệnh nhân đã được tiêm chủng thường mắc thể nhẹ, không điển hình; thể không điển hình, thể nhẹ, thể cụt là những bệnh có tổng giá trị quan trọng về phương diện dịch tễ vì những thể này khó phát hiện hoặc bị coi nhẹ, và bệnh nhân mắc thể này thường vẫn đi lại được, do đó là nguồn lây bệnh đơn giản.c) Thể tối độc: (thể độc dị ứng, thể quá mẫn, thể ác tính): thường xảy ra ở những bệnh nhân mẫn cảm sẵn đối với mầm bệnh (bạch hầu, lỵ thể độc…), phát sinh những rối loạn chức năng và tổn thương thực thể ở các tổ chức và nội tạng rất nặng, thường xuyên khi không hồi phục được. Bệnh thường diễn biến qua các giai đoạn điển hình.4. Giai đoạn kết thúc:Ba khả năng có thể xảy ra:- Khỏi bệnh.- Chuyển sang thể mãn tính.- Chết.Khỏi bệnh: có khả năng nhénh (viêm phổi) hoặc kéo dài (thương hàn, lao). Giai đoạn lui bệnh là giai đoạn những phản ứng miễn dịch bảo vệ của cơ thể bắt đầu chiếm ưu thế, các rối loạn chức năng và tổn thương thực thể bắt đầu phục hồi, thế cân bằng giữa cơ thể và ngoại môi dần dần ổn định và mầm bệnh dần dần bị tiêu diệt và đào thải ra khỏi cơ thể. quá trình phục hồi ở lâm sàng thường xảy ra sớm hơn quy trình phục hồi ở tổ chức.Khỏi bệnh có thường xuyên mức độ:Khỏi hoàn toàn khi:. Hết các triệu chứng lâm sàng.. Hết các tổn thương thực thể.. Không còn mang mầm bệnh và không còn bài tiết ra mầm bệnh (nếu là bệnh nhiễm trùng).Thí dụ: khỏi lỵ trực tràng phải đạt đủ 3 tiêu chuẩn: không đi đồng ra máu nhÇy , phân đã thành khuôn, hết đau bụng…soi trực tràng thấy niêm mạc đại tràng đã bình thường, không có loét, có trợt, có đốm xuất huyết…Cấy phân không còn thấy trực khuẩn lỵ.- Chỉ khỏi lâm sàng đơn thuần, nhưng còn rối loạn chức năng và tổn thương thực thể. Thí dụ, bệnh viêm gan truyền nhiễm, bệnh nhân đã hết vàng da, ăn thấy ngon, hết đầy bụng và đau bụng, gan hết sưng song những chức năng gan qua các xét nghiệm vẫn còn bị rối loạn.- Khỏi về lâm sàng, khỏi cả về rối loạn chức năng và tổn thương thực thể , song còn bài tiết ra mầm bệnh (nếu là bệnh nhiễm trùng). Thí dụ, bệnh nhân thương hàn sau khi trở thành người lành, mang trùng mỗi tháng,hàng năm.Trường hợp “còn mang trùng sau khi khỏi bệnh” có 3 loại:+ Còn mang mầm bệnh, nhưng có miễm dịch (bạch hầu, thương hàn): có thể không mắc bệnh lần thứ 2 song có thể truyền bệnh cho người xung quanh.+ Còn mang mầm bệnh nhưng không có miễm dịch, có thể mắc bệnh lần thứ 2 (cúm).+ Còn mang mầm bệnh và sức thụ bệnh lại tăng so với trước đây (như viêm quảng), loại này rất dễ mmắc bệnh lạiTái phát. Có những trường hợp triệu chứng bệnh lý đã hết (khỏi lâm sàng), song vì một nguyên nhân nào đó bệnh trở lại giống hệt lần trước: hiện tượng này gọi là tái phát. Cần phân biệt tái phát và tái nhiễm: tái nhiễm là vi sinh vật đột nhập lần thứ 2 vào cơ thể và gây bệnh còn tái phát là bệnh xuất hiện lần thứ 2 tuy không bị nhiễm trùng thêm. nhiều bệnh nhiễm trùng có tái phát. Có hai loại tái phát:- Ở một vài bệnh, tái phát là một giai đoạn tát yếu của quá trình tiến triển của bệnh; thí dụ trong sốt hồi quy, cứ 3- ngày lại lên một cơn sốt kéo dài 3- ngày, loại tái phát này phục thuộc vào quá trình sinh sản của mầm bệnh, thường được coi là giai đoạn bệnh.- Song ở một vài lớn bệnh khác, tái phát không phải là hiện tượng tất yếu, thường khi có khi không, do thường xuyên tác nhân chi phối:+ Do mầm bệnh còn ẩn náu trong cơ thể, khi gặp cơ hội tốt, mầm bệnh tăng độc tính và gây ra tái phát (sốt rét, thương hàn…).+ Do cơ chế dị ứng: trong cơ thể không còn kháng nguyên vi sinh vsstj, song cơ thể ở trạng thái mẫn cảm, khi gặp một kích thích không đặc hiệu (thí dụ bị lạnh), cũng có thể gây ra tái phát (như trong viêm cầu thận).II. QUÁ TRÌNH CHẾTA- SINH LÝ BỆNH CỦA QUÁ TRÌNH CHẾTKhi có khả năng thích ứng của cơ thể đã hoàn toàn mát, khi cơ thể không còn khả năng tiếp tục vận hành, con người sẽ chết. Chết có thể chia làm 2 loại:- Chết sinh lý, thường xảy ra ở người cao tuổi, đó là kết quả của sự tiêu hao dần mòn của cơ thể.- Chết bệnh lý, là một trong số những phương thức kết thúc của bệnh tật.Căn cứ vào các tài liệu hiện đại, người ta phải tới 140-150 tuổi mới chết (có trường hợp sống đến 248 tuổi ), song chỉ có một số ít người sống tới tuổi đó, còn đại đa số là chết non, chết do bệnh tật, đặc biệt là các nước tư bản và thuộc địa.nguyên nhân trực tiếp gây ra ra chết là làm tim hoặc hô hấp đình chỉ hoạt động. Chết có khả năng xảy ra đột ngột hoặc từ từ.Chết là kết thúc của sinh mệnh, song không phải hễ chết là tất cả các chức năng trong cơ thể đều đình chỉ một lúc mà một số bộ phận nào đó vẫn tiép tục vận hành trong một thời gian ngắn nữa: sau khi chết ruột vẫn tiếp tục co bóp, tóc và móng tay vẫn tiếp tục mọc, tiêm pilocapin vào mạch máu ngón tay vẫn gây ra được tiết mồ hôi…do đó thấy rõ chết là cả một quy trình: trong quy trình chết, vận hành của hệ thần kinh trung ương đình chỉ sớm nhất: trước tiên là vỏ não sau đó tới gian não, trung não, hành tủy và tủy sống. Nói chung những bộ phận của hệ thần kinh trung ương hình thành sớm nhất thì chết muộn nhất. Sau khi hô hấp đình chỉ, có thể thấy tim còn vận hành yếu ớt, thoi thóp.Trước khi chết, thường có thời kỳ hấp hối, kéo dài tới vài giờ tới vài ngày. Đặc điểm của thời kỳ này là hệ thần kinh trung ương và các chức năng qyuan trọng của cơ thể bị rối loạn nặng nề: hô hấp loạn nhịp (không đều đặn, cách quãng), rối loạn hoạt động tim, thân nhiệt hạn chế, hôn mê, phản xạ mất dần…(H1)quy trình chết có thể chia làm 2 giai đoạn:a) Chết lâm sàng: Đặc điểm của giai đoạn này là tim ngừng đập, mất phản xạ, hệ thần kinh trung ương bị ức chế nghiêm trọng (do rối loạn chuyển hóa nặng nề, dự trữ năng lượng kiệt quệ), song các tế bào thần kinh, đặc biệt là tế bào vỏ đại não chưa bị tổn thương, nếu kịp thời cấp cứu có hy vọng cứu sống được. Giai đoạn chết lâm sàng thường kéo dài tới 5-6 phút. Trong thực tế, khi mất mạch cảnh coi như đã chết lâm sàng.b) Chết sinh vật tiếp theo chết lâm sàng. Đặc điểm của thời kỳ này là các tế bào thần kinh đã bị tổn thương không phục hồi, trước tiên là vỏ đại não sau đó là các trung khu cấp thấp.B – HỒI SINHPhương pháp hồi sinh là một phương pháp khoa học dấu tranh chống cái chết: nhờ có phương pháp này, người ta có thể khôi phục được các chức năng quan trọng của cơ thể đã lâm vào thời kỳ hấp hối hoặc chết lâm sàng. Nói chung, phương pháp này có kết quả tốt trong những trường hợp chết nhanh (sốc, chảy máu nặng, ngạt cấp diễn…) và các bộ phận quan trọng (não, tim, gan, thận ) còn tương đối tốt, trái lại, rất ít tác dụng đối với các bệnh mãn tính đã gây ra ra thường xuyên rối loạn chức năng quan trọng, đặc biệt ở não, tim ,gan, thận, phổi… Cứu người hấp hối dễ hơn người đã chết lâm sàng. Néu thời gian chết lâm sàng đã quá 6 phút, khó mà cứu sống được (vì trong vỏ đại não đã sinh ra những tổn thương không phục hồi được ). do đó công tác hồi sinh phải hết sức khẩn trương, trnh thủ từng giây phút, chuẩn bị thật chu đáo, nắm vũng kỹ thuật (vì 1 thiếu sót nhỏ có thể có một ảnh hưởng tai hại)Qua thường xuyên công trình thống kê, gần đay ngườ ta đã sáng tạo ra phương pháp hồi sinh tổng hợp bao gồm : hô hấp nhân tạo, truyền máu động mạch, bóp tim.a) Hô hấp nhân tạo. dùng phương pháp nội khí quản bơm oxy (hoặc không khí) vào phổi với một áp lực nhất định làm cho phổi giãn ra, có tác dụng kích thích trung khu hô hấp một cách phản xạ. Đơn giản hơn có thể sử dụng phương pháp hà hơi thổi ngạt.b) Truyền máu động mạch. Truyền máu với một áp lực cao (180-200 mmHg) vào động mạch, ngược chiều máu chảy (hướng về tim). Máu với áp lực cao có thể vào tới động mạch vành, khôi phục được dinh dưỡng cơ tim, cùng lúc ấy kích thích thụ thể ở thành động mạch vành và ơt tim, có công dụng thức tỉnh sự vận hành của tim, phổi một cách phả xạ. Sau khi huyết áp hồi phục, tim co bóp tốt, bây giờ mới truyền máu vào tĩnh mạch dể tim có đầy đủ máu ở thời kỳ tâm trương, có tác dụng tăng cường vận hành của tim.c) Bóp tim: Có tác dụng kích thích tim, thức tỉnh sự hoạt động của tim.Phương pháp hồi sinh tổng hợp, áp dụng trong thực tế đã đem lại nhiều kết quả tốt, nếu được tiến hành kịp thời. Nếu ngừng tim đột ngột, chỉ cần bóp tim kịp thời, có được oxy thì rất tốt, còn truyền máu động mạch thì thường xuyên khi không rất cần thiết.Trong quy trình hồi sinh, yếu tố thời gian vô cùng quan trọng:- Từ khi ngừng tim đến khi bóp tim tốt nhất là dưới 3 phút, có khả năng phục hồi hoàn toàn.- 4-6 phút: bệnh nhân phục hồi được song trải qua 4-5 tháng nhớ ngẩn.- 6-10 phút: bệnh nhân không thể sống được, ngưng hô hấp, tuần hoàn có thể hồi phục được. Bệnh nhân tự thở, mạch và huyết áp trở lại bình thường, nhưng bệnh nhân không tỉnh mà cứ mê man rồi chết.- 10-30 phút: hô hấp hồi phục, mạch huyết áp không phục hồi, nhưng tim có thể đập lại, yếu ớt một thời gian rồi ngừng hẳn.- Sau 30 phút: tim không có khả năng đập lại. C- QUÁ TRÌNH HỒI PHỤCTuần hoàn não được khôi phục có tác dụng cải thiện hơn chức năng hệ thần kinh trung ương. Khi chức năng hành tủy được khôi phục, hô hấp tự động xuất hiện. Hưng phấn từ trung khu hô hấp hành tủy lan tới trung khu vận mạch, có công dụng cải thiện tuần hoàn. ngoài ra, hô hấp tự động sớm còn có công dụng khôi phục chức năng các trung khu cao cấp: hô hấp hồi phục muộn thường gây ra tử vong.Hệ thần kinh trung ương hồi phục theo thứ tự sau: các trung khu ở hành tủy (hô hấp, vận mạch…) hồi phục đầu tiên rồi tới trung não (phản xạ đồng tử đối với ánh sáng). Sau đó và có khi sau phản xạ giác mạc mới hồi phục phản xạ tủy sống. Dần dần hồi phục các trung khu dưới vỏ não, sau đó mới tới tiểu não và cuối cùng là vỏ đại não. hoạt động thần kinh cao cấp hồi phục tuân theo những quy luật nhất định: phản xạ không điều kiện phục hồi trước sau đó mới tới phản xạ có khó khăn tự nhiên, rồi tới phản xạ có điều kiện nhân tạo. Nội ức chế phục hồi muộn nhất. Khi chức năng vỏ đại não đã hồi phục, các chức năng của cơ thể được cải thiện hơn nhénh chóng.

Mọi Người Xem :   7 Nhà hàng lẩu cá tầm Hà Nội cực chất lượng - Digifood


Các câu hỏi về quá trình bệnh lý là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê quá trình bệnh lý là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết quá trình bệnh lý là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết quá trình bệnh lý là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết quá trình bệnh lý là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về quá trình bệnh lý là gì


Các hình ảnh về quá trình bệnh lý là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Xem thêm báo cáo về quá trình bệnh lý là gì tại WikiPedia

Bạn nên tra cứu thêm thông tin về quá trình bệnh lý là gì từ web Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

🏠 Quay lại trang chủ

Các bài viết liên quan đến

Mọi Người Xem :   Du học sinh tiếng anh là gì? - buyer.com.vn

Related Posts

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng. 1

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng.

ContentsĐánh giá về Quá trình bệnh lýCác câu hỏi về quá trình bệnh lý là gìCác Hình Ảnh Về quá trình bệnh lý là gìXem thêm báo…
Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống 2

Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về Quá trình bệnh lýCác câu hỏi về quá trình bệnh lý là gìCác Hình Ảnh Về quá trình bệnh lý là gìXem thêm báo…
Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống 3

Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về Quá trình bệnh lýCác câu hỏi về quá trình bệnh lý là gìCác Hình Ảnh Về quá trình bệnh lý là gìXem thêm báo…
CH3Cl - metyl clorua - Chất hoá học 4

CH3Cl – metyl clorua – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về Quá trình bệnh lýCác câu hỏi về quá trình bệnh lý là gìCác Hình Ảnh Về quá trình bệnh lý là gìXem thêm báo…
I2 - Iot - Chất hoá học 5

I2 – Iot – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về Quá trình bệnh lýCác câu hỏi về quá trình bệnh lý là gìCác Hình Ảnh Về quá trình bệnh lý là gìXem thêm báo…
7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt 6

7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt

ContentsĐánh giá về Quá trình bệnh lýCác câu hỏi về quá trình bệnh lý là gìCác Hình Ảnh Về quá trình bệnh lý là gìXem thêm báo…