Linh Mục Sống Tinh Thần Phụng Tự Nhờ Các Việc Phụng Tự Ngoài Bí Tích | GIÁO PHẬN XUÂN LỘC

Bài viết Linh Mục Sống Tinh Thần Phụng Tự Nhờ Các Việc Phụng Tự Ngoài Bí Tích | GIÁO PHẬN XUÂN LỘC thuộc chủ đề về Giải Đáp Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer tìm hiểu Linh Mục Sống Tinh Thần Phụng Tự Nhờ Các Việc Phụng Tự Ngoài Bí Tích | GIÁO PHẬN XUÂN LỘC trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung về : GIÁO PHẬN XUÂN LỘC”

Đánh giá về Linh Mục Sống Tinh Thần Phụng Tự Nhờ Các Việc Phụng Tự Ngoài Bí Tích | GIÁO PHẬN XUÂN LỘC


Xem nhanh
#SĐCG433: 1. Phụng tự là gì? Phụng Tự khác Phụng Vụ thế nào?
2. Tại sao phải xin lễ? Xin lễ cho các Linh Hồn thì được ích gì?

Thưa cha con là một giáo dân ở Việt Nam, Giáo phận Xuân Lộc. vừa qua con có đọc một tài liệu về việc Phụng Tự, nhưng con không hiểu. Vậy xin cha cho con hỏi: Phụng Tự là gì? Phụng tự có giống phụng vụ không ạ?

         imageAnh em linh mục thân mến,

         Trong lễ phong chức linh mục, Đức Giám mục chủ phong thường nói với các tiến chức linh mục lời huấn dụ này: “Khi các con rửa tội để kết nạp các phần tử mới vào Dân Thiên Chúa, khi các con nhân danh Chúa và Hội Thánh mà tha tội, khi xức dầu thánh để nâng đỡ các bệnh nhân, khi cử hành các nghi thức thánh hay đọc các Giờ kinh Phụng vụ để dâng lên Thiên Chúa những lời ca tụng, tạ ơn và chuyển cầu cho Dân Chúa cũng như toàn thể thế giới, thì các con hãy nhớ mình đã được tuyển chọn giữa loài người và cho loài người để thi hành những việc thuộc về Thiên Chúa.” Lời này rõ nét gợi lên tinh thần phụng tự trong sự quy chiếu về các bí tích, cũng như về những việc phụng tự ngoài bí tích. do đó sau khi cùng với anh em, trong dịp tĩnh tâm Tháng Bảy vừa qua, suy nghĩ về các bí tích như phương tiện giúp chúng ta sống tinh thần phụng tự, hôm nay, nhân dịp tĩnh tâm Tháng Chín này, tôi muốn cùng với anh em dùng các việc phụng tự ngoài bí tích để sống tinh thần phụng tự. Chúng ta biết rằng ngoài 7 Bí tích, còn có các việc phụng tự khác được Bộ Giáo luật liệt kê, bao gồm: 1/ các Á bí tích (điều 1166-1172), 2/ Phụng vụ Giờ kinh (điều 1173-1175), 3/ việc an táng theo nghi thức Giáo hội (điều 1176-1185), 4/ việc tôn kính các thánh, ảnh tượng các thánh, hài cốt các thánh (điều 1186-1190), 5/ lời khấn và lời thề (điều 1191-1204). Chúng ta sẽ lần lượt nhờ từng việc này để sống tinh thần phụng tự.

1. Sống tinh thần phụng tự nhờ các Á bí tích

       Giáo luật điều 1166 định nghĩa: “Các Á bí tích là những dấu chỉ thánh, nhờ đó, phần nào phỏng theo các bí tích, những hiệu quả, đặc biệt là những hiệu quả thiêng liêng, được biểu thị và được thông ban nhờ lời khẩn cầu của Giáo hội.” Với định nghĩa này, chúng ta hiểu rằng số lượng Á bí tích tuỳ thuộc vào quyết liệt của Giáo hội, vì “chỉ một mình Tông Toà mới có thể thiết lập những Á bí tích mới, hoặc chính thức giải thích những Á bí tích đã được chấp nhận, huỷ bỏ hoặc thay đổi ngay Á bí tích nào đó trong số các Á bí tích ấy” (điều 1167, §1). Chúng ta cũng biết rằng Á bí tích có hai loại chính là: phép lành và trừ tà. Chủng loại Á bí tích gợi lên thẩm quyền cử hành. Thật vậy, không phải chỉ linh mục mới có quyền cử hành các Á bí tích; giáo dân có tư cách xứng hợp cũng có khả năng ban một số Á bí tích (x. điều 1168) như chúc lành bữa ăn, đọc công thức chúc lành nhà mới khi không có thừa tác viên chức thánh (dĩ nhiên giáo dân không thể ban phép lành). Cũng không phải đã là linh mục thì có thể cử hành mọi Á bí tích; chỉ các linh mục đã được luật cho phép hoặc đã được ban quyền cách hợp pháp, mới có thể cử hành việc thánh hiến và cung hiến, vốn là việc thường dành cho người có ấn tích giám mục (x. điều 1169, §1); và cũng chỉ linh mục nào có phép đặc biệt và minh nhiên của Đấng Bản Quyền địa phương, mới có khả năng trừ tà cách hợp pháp cho những người bị quỷ ám (x. điều 1172, §1), vốn là việc trừ tà trọng thể, khác với việc trừ tà dễ dàng vẫn được linh mục thực hiện khi rửa tội. Nói chung, trừ những phép lành được dành riêng cho Đức Giáo hoàng hoặc cho các Giám mục (x. điều 1169, §2), linh mục có khả năng ban phát các phép lành, như làm phép người (chúc lành cho trẻ em, bệnh nhân, thai nhi…), vật dụng (ảnh tượng, tràng hạt, xe cộ…), nơi chốn (nhà cửa, công sở, trường học…) và bữa ăn. Giáo luật điều 1170 còn nói rõ về thụ nhân của các phép lành: “Các phép lành phải được ban trước hết cho những người Công giáo, nhưng cũng có khả năng được ban cho các dự tòng, và cho cả những người không Công giáo nữa, trừ khi Giáo hội ngăn cản điều đó.”

       Để sống tinh thần phụng tự nhờ các Á bí tích, chúng ta cần nhớ rằng Giáo hội muốn nối dài các bí tích bằng cách dùng Á bí tích để chuẩn bị cho Dân Chúa lãnh nhận bí tích (x. Sách Giáo Lý Công Giáo, số 1667). Như thế chúng ta hãy sẵn lòng ban phát các Á bí tích, giúp giáo dân lãnh nhận các bí tích cách thích đáng, sau khi xác minh họ không bị luật cấm lãnh nhận các bí tích (x. điều 843, §1). Lại nữa, vì các Á bí tích là những dấu chỉ thánh, nhờ đó, những hiệu quả được biểu thị và được thông ban nhờ lời khẩn cầu của Giáo hội (x. điều 1166), nên chúng ta rất cần lưu ý, không để mình che khuất hoặc làm lu mờ tính cách dấu chỉ của Á bí tích, vì mình làm những cái khó hiểu đối với những người tham dự vào việc cử hành, hoặc làm những điều không giúp người tham dự thấy những tổng giá trị thiêng liêng của Á bí tích. Dĩ nhiên, hiệu quả của Á bí tích phát sinh từ mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh của Chúa Kitô, nhưng hiệu quả này được thông ban nhờ lời khẩn cầu của Giáo hội, (tức hiệu quả do nhân, ex opere operantis), mà Giáo hội là chính linh mục chúng ta, nên tinh thần phụng tự nhắc chúng ta ý thức khẩn cầu Thiên Chúa khi cử hành các Á bí tích để Chúa được tôn vinh và các tín hữu được ích lợi. Dù sao, chúng ta cũng cần luôn ý thức rằng chỉ vì mình là linh mục, mà mình được ban cho những năng quyền khác với của giáo dân. Ý thức này giúp chúng ta trân trọng những năng quyền đã lãnh nhận: trân trọng bằng cách sẵn lòng cử hành, và cử hành cách ý thức sốt sắng, đạo đức các Á bí tích. Liên quan đến việc cử hành các Á bí tích, có hai giới hạn đối với linh mục. Ý nghĩa của hai giới hạn này lại giúp chúng ta sống tinh thần phụng tự. Thật thế, giới hạn thẩm quyền thánh hiến và cung hiến mời gọi linh mục liên kết với giám mục là người có chức tư tế sung mãn; giới hạn thẩm quyền trừ tà thúc giục linh mục sống đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan, vẹn toàn (x. điều 1172, §2), dù không để được ban quyền trừ tà. Và dĩ nhiên, không ai trong chúng ta đã có lần nào chúc dữ cho một ai đó, nhưng chúng ta vẫn cần ý thức cử hành việc chúc lành, để lồng vào đó tinh thần phụng tự: mến Chúa yêu người.

Mọi Người Xem :   Ý nghĩa của Hoa Sữa - biểu tượng của Thủ đô Hà Nội

2. Sống tinh thần phụng tự nhờ Giờ kinh Phụng vụ

       Chúng ta đã biết Giờ kinh Phụng vụ “là lời cầu nguyện liên lỉ của toàn thể Giáo hội để thánh hóa ngày giờ và toàn bộ sinh hoạt của con người.” Chúng ta cũng biết có 5 Giờ kinh Phụng vụ trong ngày là Kinh Sách, Kinh Sáng, Kinh Trưa, Kinh Chiều và Kinh Tối, trong đó quan trọng hơn cả là Kinh Sáng và Kinh Chiều. Chúng ta còn biết một Giờ kinh Phụng vụ, cách riêng Kinh Sáng và Kinh Chiều, thường gồm Giáo đầu, một Thánh thi, các Thánh vịnh, một đoạn Sách Thánh, câu xướng đáp, thánh ca Tin Mừng, các lời cầu, lời nguyện và phép lành giải tán. Giáo luật điều 1173 cho biết mục đích tổng quát của Giờ kinh Phụng vụ, khi viết: “Trong khi chu toàn nhiệm vụ tư tế của Đức Kitô, Giáo hội cử hành phụng vụ các giờ kinh, nhờ đó Giáo hội nghe Chúa nói với dân Ngài, tưởng nhớ mầu nhiệm cứu độ, không ngừng dùng lời kinh tiếng hát để ca ngợi và khẩn cầu Ngài ban ơn cứu độ cho toàn thế giới.” Còn mục đích cụ thể của mỗi Giờ kinh Phụng vụ thì chúng ta cũng đã biết: Kinh Sách cung cấp cho ta phương tiện phong phú để nghiền ngẫm Kinh Thánh, Kinh Sáng nhằm thánh hóa thời khắc ban sáng, Kinh Trưa để thánh hoá thời gian ban ngày, Kinh Chiều để tạ ơn Chúa về những gì Chúa đã ban hoặc những việc lành chúng ta đã làm trong ngày, Kinh Tối để bày tỏ sự thống hối về những tội lỗi và thiếu sót, đồng thời phó thác nơi Chúa. Từ đó, chúng ta hiểu bổn phận của các Giáo sĩ chúng ta đối với Giờ kinh Phụng vụ: “Các giáo sĩ buộc phải cử hành phụng vụ các giờ kinh, chiếu theo quy tắc của điều 276 §2 3o…” (điều 1174, §1), thậm chí, “khi cử hành phụng vụ các giờ kinh, phải giữ đúng thời khắc thật của mỗi giờ kinh, ngần nào có thể” (điều 1175).

       Với ý thức và tinh thần siêu nhiên, chúng ta thấy cử hành Giờ kinh Phụng vụ là một vinh dự, chứ không phải là một gánh nặng đối với chúng ta. Ý thức về vinh dự cử hành Giờ kinh Phụng vụ sẽ thúc đẩy chúng ta đọc nên, đọc đúng, đọc đủ các Giờ kinh Phụng vụ, và đọc phù hợp với giờ thật trong ngày. Làm như thế là chúng ta sống tinh thần phụng tự nhờ Giờ kinh Phụng vụ, như thánh Giáo hoàng Piô X viết: “Ai lại không cảm động trước rất thường xuyên đoạn thánh vịnh hết lời xưng tụng uy nghi vô tận và quyền năng của Thiên Chúa, xưng tụng đức công chính, lòng nhân hậu và từ tâm khôn tả, cũng như thường xuyên phẩm tính vô cùng đáng ca tụng khác của Người ? Ai lại không cảm thấy những tâm tình giống như thế khi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì những ơn lành Người đã ban, hay khi khiêm tốn và tin tưởng cầu xin những điều mình đang mong đợi, hoặc khi cất tiếng kêu van tự đáy lòng thống hối tội lỗi ? Ai lại không cảm thấy bừng cháy lòng yêu mến trước hình ảnh Đức Kitô, Đấng Cứu Thế, được họa lại cẩn thận ?”

3. Sống tinh thần phụng tự nhờ việc an táng theo nghi thức Giáo hội

       Chúng ta đã biết Giáo hội muốn các Kitô hữu đã qua đời phải được an táng theo nghi thức Giáo hội (x. điều 1176, §1). Nghi thức này gồm ba phần việc: tẩm liệm và cầu nguyện tại nhà hiếu; phó dâng và từ biệt tại nhà thờ; và mai táng nơi phần mộ hoặc hoả táng. An táng theo nghi thức Giáo hội không đương nhiên bao hàm thánh lễ an táng, bằng chứng là, vào những ngày luật phụng vụ cấm cử hành lễ an táng, thì chỉ được cử hành nghi thức an táng. Như thế, thánh lễ an táng và nghi thức an táng là hai cử hành khác nhéu. Sự khác nhéu này trở thành một gợi ý cho chúng ta sống tinh thần phụng tự, hệ tại việc tôn thờ Chúa và phục vụ tha nhân.

       Quả thế, nếu không có thánh lễ an táng, và đồng thời thừa tác viên thông thường của việc an táng theo nghi thức Giáo hội là linh mục hay phó tế lại vắng mặt, thì một giáo dân được uỷ nhiệm có thể chủ sự nghi thức này với một số thích nghi cho phù hợp với vị thế của người giáo dân. Sự kiện liên lạc đến thẩm quyền cử hành này cần được anh em linh mục chúng ta đón nhận cách đúng đắn, không phải để tuỳ tiện chuyển nhượng cho giáo dân những cử hành nên được linh mục thực hiện khi linh mục có khó khăn, cũng không để độc quyền cử hành những gì luật chia sẻ cho giáo dân, mà là để trân trọng những cử hành vốn ưu tiên dành cho thừa tác viên có chức thánh là chúng ta. Sự trân trọng này thúc đẩy chúng ta ý thức và sốt sắng cử hành, dù chỉ là một nghi thức.

       Kế đến, dù là cử hành thánh lễ an táng hay nghi thức an táng, thì lời nói của chúng ta vẫn rất quan trọng. Lời nói này là lời giảng, lời chia sẻ, lời an ủi, lời động viên, lời khích lệ… Tất cả phải được chúng ta dọn thật kỹ: kỹ về nội dung trình bày, về câu chữ, từ ngữ sử dụng, và phục vụ đúng đối tượng tham dự. Đối tượng này có thể là Công giáo, là ngoại giáo, là vô thần. Công giáo lại có loại sốt sắng, có loại khô khan, có loại chỉ đến nhà thờ dịp an táng ai đó, vì “nghĩa tử là nghĩa tận” chứ không vì lòng đạo đức. Nói chung, mọi lời nói của chúng ta phải làm nổi bật đặc tính Vượt qua của cái chết theo Kitô giáo trong niềm hy vọng sống lại, nêu rõ ý nghĩa hiệp thông với người quá cố, khi cầu nguyện cho linh hồn họ được sớm hưởng nhan Thánh Chúa, an ủi thân nhân người qua đời, và không quên ý hướng truyền giáo khi nói với người ngoại giáo và người vô thần tham dự việc an táng theo nghi thức Giáo hội.

Mọi Người Xem :   Du học Nhật Bản là gì? Giải đáp TẤT CẢ những thắc mắc về du học Nhật Bản

       Theo Giáo luật, điều 1176, §2, thì qua việc an táng theo nghi thức Giáo hội, Giáo hội khẩn cầu ơn trợ giúp thiêng liêng cho những người quá cố, tôn kính thi hài của họ, và đồng thời mang lại niềm an ủi đầy hy vọng cho những người còn sống. Giáo hội cũng là chính các linh mục, những cộng tác viên của Giám mục Giáo phận ở các giáo xứ. Như vậy, có 3 việc chúng ta cần làm liên quan đến việc an táng theo nghi thức Giáo hội, trong đó, việc thứ nhất thuộc chiều dọc (khẩn cầu Thiên Chúa); hai việc sau thuộc chiều ngang (tôn kính thi hài người chết, và an ủi người còn sống). Cả 3 việc đều nhắc ta nhớ đến tinh thần phụng tự. Chính tinh thần phụng tự sẽ giúp chúng ta không những không thiên vị cá nhân trong việc cử hành thánh lễ hay nghi thức an táng, mà còn giúp người nghèo được an táng cách xứng hợp (x. điều 1181). Cũng vì tinh thần phụng tự, và để “mang lại niềm an ủi đầy hy vọng cho những người còn sống”, chúng ta cần tham khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền địa phương và tuân theo phán quyết của ngài, khi muốn quyết định không an táng theo nghi thức Giáo hội, vì phát sinh hồ nghi về dấu chỉ sám hối trước khi qua đời, nơi những người bội giáo, những người lạc giáo, những người ly giáo hiển nhiên, những người chọn hoả táng thi hài mình vì những lý do nghịch với đức tin Kitô giáo, và những tội nhân công khai khác, mà việc an táng theo nghi thức Giáo hội sẽ sinh gương xấu rõ ràng cho các tín hữu (x. điều 1184).

4. Sống tinh thần phụng tự nhờ tôn kính các thánh

       Chúng ta biết rằng việc Giáo hội tôn kính các thánh không chỉ giới hạn vào chính con người các thánh, mà còn nới rộng tới hài cốt và ảnh tượng các ngài. Nhưng điều quan trọng không phải là hành vi tôn kính, mà là lý do tôn kính. Chính lý do này mới làm cho việc tôn kính trở thành phương thuận tiện giúp ta sống tinh thần phụng tự: tôn vinh Chúa và đem lại ích lợi thiêng liêng cho chúng ta.

       Quả thế, chúng ta tôn kính Đức Mẹ vì phẩm giá cao trọng của Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ chúng ta. Chúng ta tôn kính các thiên thần và các thánh, vì thành tích các ngài đã đạt được là sự trung thành và thảo hiếu với Chúa. không những thế, Đức Mẹ và các thánh còn là mẫu gương cho ta bắt chước để đến với Chúa, và còn có khả năng bầu cử cho ta trước Toà Chúa. Những lý do tôn kính này đều đặn quy về Chúa, khiến càng tôn kính các thánh, chúng ta càng đi vào tinh thần phụng tự. Dù sao, xem ra vẫn còn trừu tượng, lý thuyết. Nghĩa là, để việc tôn kính các thánh có đối tượng cụ thể hơn, chúng ta thường rất trân trọng hài cốt các thánh.

       Hài cốt các thánh được ta tôn kính, vì đó là những kỷ niệm rất quý giá về quyền năng của ơn thánh Chúa nơi con người vị thánh, cùng lúc ấy quý giá về các thành viên ưu tú của Giáo hội, những con người đã biết cộng tác với ơn Chúa để nên thánh. Hài cốt các thánh được tôn kính còn vì Chúa thường thực hiện các phép lạ qua các hài cốt thánh. Kinh nghiệm cho thấy, mỗi khi nghe nói hoặc nhìn thấy hài cốt các thánh, thì tâm tình đạo đức của chúng ta rất dễ được khơi lên, và chúng ta được khích lệ bắt chước các thánh để làm theo ý Chúa là sống cho Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân.

       mặt khác, vì là tạo vật giới hạn, mọi nhận thức của chúng ta luôn phải nhờ tới các trung gian, nên việc chúng ta tôn kính ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và các thánh là điều rất dễ hiểu. Quả thật, các ảnh tượng thánh là những trung gian tốt, thậm chí là những Á bí tích luôn có sức mạnh của một dấu chỉ để gợi cho chúng ta nhớ hoặc liên tưởng đến các thánh, để yêu quý và bắt chước các ngài. Bắt chước các thánh là muốn trở nên giống Chúa và hữu ích cho người chung quanh. Và đó chính là tinh thần phụng tự.

5. Sống tinh thần phụng tự nhờ lời hứa ngày chịu chức linh mục

       Chúng ta đã biết: lời khấn “là lời hứa có suy nghĩ và tự do với Thiên Chúa về một ích lợi khả thi và tốt hơn” (GL điều 1191, §1); và lời thề “là lời kêu cầu danh Chúa làm chứng cho chân lý” (điều 1199, §1). Như vậy, lời khấn và lời thề đều thuộc về nhân đức thờ phượng và là những việc phụng tự. Lời khấn của các tu sĩ đảm nhận 3 lời khuyên Phúc Âm chắc chắn là hành vi phụng tự, vì nhắm đến Chúa. Vậy thì lời hứa vâng phục của chúng ta trước Đức Giám mục trong ngày chúng ta chịu chức linh mục có là việc phụng tự không? Câu trả lời cho câu hỏi này không nằm ở nội dung những gì được hứa, mà là lý do khiến có lời hứa. Lý Vì vậy là Chúa, và Chúa trong con người Đức Giám mục. Quả thế, là linh mục giáo phận, chúng ta không khấn giữ 3 lời khuyên Phúc Âm như các tu sĩ. Thậm chí trong ngày thụ phong linh mục, chúng ta cũng chỉ được Đức Giám mục chủ phong hỏi riêng về đức vâng phục: “Con có hứa kính trọng và vâng phục Cha cùng các Đấng kế vị Cha không?” Thực ra, 3 lời khuyên Phúc Âm vẫn được Giáo hội gửi đến chúng ta, gói ghém trong 3 điều luật LH đến đức vâng phục (điều 273), đức khiết tịnh (điều 277) và đức khó nghèo (điều 282). Khi tự nguyện làm đơn xin phép chịu chức linh mục là chúng ta tuyên bố chấp nhận để thực thi các nghĩa vụ hàm chứa trong 3 điều luật liên lạc đến 3 lời khuyên Phúc Âm. Như thế việc làm đơn chịu chức linh mục giáo phận có khác gì việc các tu sĩ tuyên khấn đảm nhận 3 lời khuyên Phúc Âm, và như vậy, không là việc phụng tự sao? Từ đó, chúng ta thấy dễ hiểu việc Đức Giám mục chủ phong chỉ cần hỏi tiến chức linh mục giáo phận về riêng đức vâng phục. Chính Đức Giám mục chủ phong này lại là nhân tố nữa làm cho việc hứa của chúng ta ngày chịu chức linh mục trở thành việc phụng tự. Thật vậy, chúng ta hứa vâng phục Đức Giám mục vì ngài là người có chức tư tế sung mãn nhận lãnh từ Chúa, ngài thay mặt Chúa nhận lời hứa của chúng ta. Nhưng hành vi hứa vâng phục Giám mục mới chỉ là một việc mang hình thức phụng tự. Để hành vi này có nội dung phụng tự thực sự, chúng ta cần để cho tinh thần phụng tự thúc đẩy và chi phối việc chúng ta giữ lời hứa vâng phục Giám mục, nghĩa là chúng ta cần sống tinh thần của giới răn thứ nhất (thờ phượng Chúa) và giới răn thứ hai (tôn kính Danh Thánh Chúa). Lúc đó, giữ lời hứa vâng phục Giám mục là thực hiện 3 lời khuyên Phúc Âm. Về điều này, chúng ta có gương sáng của một linh mục giáo phận như chúng ta, là thánh Gioan Maria Vianney, người đã sống 3 lời khuyên Phúc Âm, có lẽ triệt để hơn cả nhiều tu sĩ!

Mọi Người Xem :   Mua son afterglow - son dưỡng ở đâu? Nơi bán son afterglow - son dưỡng giá rẻ, uy tín, chất lượng | http://buyer.com.vn

       Chả vậy mà, trong Thông điệp Sacerdotii Nostri Primordia, công bố năm 1959, nhân dịp đệ nhất bách chu niên ngày thánh Vianney qua đời, Đức Chân phúc Giáo hoàng Gioan XXIII đã giới thiệu thánh Vianney với sự qui chiếu đặc biệt đến “ba lời khuyên Phúc âm”, là điều được Đức Giáo hoàng cho là rất cần thiết đối với các linh mục: “Dẫu cho linh mục không bị ràng buộc bởi ba lời khuyên Phúc âm do bậc giáo sĩ, nhưng những lời khuyên Phúc âm này cũng đem đến cho họ, cũng như cho mọi môn đệ Chúa, phương thế chính qui để đi tới mục tiêu đáng khát mong là sự hoàn thiện Kitô giáo.” Cha Vianney đã sống các lời khuyên Phúc âm một cách phù hợp với bậc sống linh mục của mình. Quả thế, lối sống nghèo của thánh Vianney không phải là sự nghèo khó của một tu sĩ hay đan sĩ, nhưng là sự nghèo khó của một linh mục giáo phận. Trong khi giữ thường xuyên tiền của vì những khách hành hương giàu có quan tâm đến các công trình bác ái của ngài, ngài ý thức rằng mọi sự được dâng cho nhà thờ của ngài, cho những người dân nghèo của ngài, cho những trẻ em mồ côi của ngài, cho những em bé gái nhà “Chúa Quan Phòng” của ngài. Đối với người khác, ngài quảng đại cho đi, nhưng đối với chính bản thân mình, ngài sống rất nghèo. Ngài thường nói: “Bí quyết của tôi rất đơn giản: cho đi tất cả mà không giữ lại cho mình điều gì.” Vào cuối đời, ngài có khả năng nói một cách hết sức thanh thản: “Tôi không còn gì cả. Chúa nhân lành có khả năng gọi tôi bất cứ lúc nào Ngài muốn.” Đức khiết tịnh thánh Vianney đã sống là sự khiết tịnh độc thân bắt buộc đối với linh mục thừa tác. Đó là đức khiết tịnh dành cho người hằng ngày đụng chạm tới Thánh Thể, và cho những ai thường chiêm ngắm Thánh Thể trong niềm hoan lạc của tâm hồn và chia sẻ niềm hạnh phúc ấy cho đoàn chiên mình. Người ta nói về ngài: “Khuôn mặt ngài chiếu tỏa sự khiết tịnh.” Các tín hữu nhận ra điều đó khi ngài hướng ánh mắt về phía Nhà Tạm với ánh nhìn tràn ngập yêu thương. Đức vâng phục của thánh Vianney thì nhập thể hoàn toàn vào trong những yêu sách của nhiệm vụ ngài phải thực thi hằng ngày. Ngài luôn bị dằn vặt với suy nghĩ mình không phù hợp với trách nhiệm linh mục chính xứ, và với nỗi khao khát trốn thoát “vào nơi cô tịch để khóc than cho cuộc sống nghèo nàn giới hạn của mình”. Chỉ có đức vâng phục và niềm say mê các linh hồn mới có thể giữ ngài ở lại với giáo xứ Ars. Ngài giải thích cho chính mình và cho các tín hữu: “Không hề có hai cách phụng sự Chúa khác nhau, chỉ có một mà thôi: đáp ứng Chúa như Chúa muốn được đáp ứng.”

6. Sống tinh thần phụng tự nhờ các việc đạo đức bình dân

       Cần nói thêm là trong mục các việc phụng tự ngoài bí tích, không thấy Giáo luật liệt kê các việc đạo đức bình dân, như: ngắm đàng Thánh Giá, lần hạt Mân Côi, kính viếng đền thánh, đi hành hương, rước kiệu, dâng nến, dâng hoa, dâng bảng tạ ơn… Nhưng chúng ta biết chắc rằng các việc đạo đức bình dân cũng là việc phụng tự. Đã là việc phụng tự, thì chúng cũng có sức giúp chúng ta sống tinh thần phụng tự, nếu chúng được chúng ta thực hành cách ý thức, sốt sắng, đều đặn.

       Anh em linh mục thân mến,

       Trong bài giảng lễ Thứ Năm Tuần Thánh năm 2007, Đức Thánh cha Bênêđictô XVI đã cảnh cáo các linh mục về nguy cơ quen quá hoá nhàm trước chính sự thánh thiêng mà linh mục thường xuyên tiếp xúc: “Khi bị các thói quen khó khăn hóa, chúng ta không nhận ra sự kiện lớn lao luôn mới mẻ và gây ra kinh ngạc là chính Chúa hiện diện, nói với chúng ta và trao ban Người cho chúng ta. Chúng ta phải liên tục chống lại sự nhàm chán với thực tại ngoại thường đó, chống lại sự thờ ơ của con tim, và phải luôn luôn thừa nhận tình trạng không đầy đủ của mình và ơn thánh trong sự kiện Chúa hiến mình trong tay chúng ta.” Lời của Đức Thánh Cha quả là một nhắc nhở rất quý giá cho chúng ta, không chỉ đối với các bí tích do Chúa Giêsu thiết lập và chúng ta vẫn cử hành, mà còn đối với các việc phụng tự ngoài bí tích, do Giáo hội thiết lập và chúng ta vẫn ban phát. Vậy anh em chúng ta hãy cầu nguyện cho nhéu biết sống tinh thần phụng tự nhờ các việc phụng tự ngoài bí tích, thể hiện qua việc triệt để trân trọng, sốt sắng cử hành, và tích cực thực thi những đòi hỏi của các việc phụng tự này.

Thân mến chào anh em.

Đaminh Nguyễn Chu Trinh

Giám mục giáo phận Xuân Lộc



Các câu hỏi về phụng tự là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê phụng tự là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết phụng tự là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết phụng tự là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết phụng tự là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về phụng tự là gì


Các hình ảnh về phụng tự là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tham khảo thêm báo cáo về phụng tự là gì tại WikiPedia

Bạn nên tham khảo thông tin về phụng tự là gì từ trang Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

💝 Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

💝 Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

Related Posts