VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu text

Bài viết VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu text thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer tìm hiểu VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem chủ đề về : “VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu text”

Đánh giá về VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu text


Xem nhanh
Đôi khi chúng ta gặp quá nhiều thất bại đau đớn khiến chúng ta bắt đầu tiêm nhiễm xác tín rằng chúng ta chẳng có thể làm gì để cải thiện tình thế được. Chúng ta cảm thấy mọi cố gắng của chúng ta chỉ là uổng công và chúng ta rơi vào tình trạng vô vọng.
Nguyên nhân của tình trạng vô vọng này là do chúng ta nghĩ sự thất bại của chúng ta là cái gì vĩnh viễn, toàn diện và cá nhân.
Tâm Sáng - Triết lý - Bí quyết thành công trong cuộc sống. chúc bạn thành công!

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (460.78 KB, 27 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HẢI HOÀNG

VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌCTHỰC DỤNG PEIRCE

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLSMã số : 62 22 80 05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2014Công trình được hoàn thành tạiTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân vănĐại học Quốc gia Hà Nội

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ MINH HỢP

Phản biện 1:Phản biện 2:Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận án cấp cơ sở, họp tại:

có khả năng tìm hiểu luận án tại: Thư viện Khoa Triết học

1

MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiNiềm tin là một trong số những biểu hiện của tồn tại người, nó có vai tròquan trọng, tạo ra nguồn năng lượng tinh thần to lớn để con người đạt tớinhững chiến tích vĩ đại. Nó được coi là một trong những yếu tố quan trọngtrong đời sống tinh thần và vận hành nhận thức, cải tạo thế giới khách quancủa con người. Song, vấn đề niềm tin thực sự chưa được giới triết học chúng taquan tâm thỏa đáng.Trong thế giới hiện đại, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật và

công nghệ, để có khả năng đồng hành cùng với sự phát triển của khoa học, triết học hiệnđại cần phải thống kê, xem xét một cách sâu sắc và có hệ thống các nội dungcủa niềm tin với tư cách không chỉ là một trong các yếu tố tinh thần to lớn, tạora động lực cho sự tiến bộ của xã hội, mà còn đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi với tư cáchlà một vấn đề, một đối tượng mà triết học có nhiệm vụ phải luận chứng.hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới – thời kỳ tiếp tục đổimới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu dân giầu,nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh với cả thời cơ và thuận lợimới, để vượt qua được thách thức, nắm bắt được thời cơ, phát huy được sứcmạnh của đại đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi sựnghiệp đổi mới, chúng ta cần phải không ngừng xây dựng và củng cố niềm tincho nhân dân vào mục tiêu cách mạng, vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vàosự lãnh đạo của Đảng cộng sản. do đó, việc tiến hành nghiên cứu về niềm tinở nước ta hiện nay có tầm quan trọng và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.Xét trên phương diện văn hóa tinh thần nói chung và triết học nói riêng,nghiên cứu triết học thực dụng và niềm tin thực dụng như một nội dung cơ bảncủa triết học thực dụng có một ý nghĩa đặc biệt, vì triết học thực dụng đã vàđang cấu thành “hạt nhân”, “bản sắc” của văn hóa Mỹ, là một trong số những

2

nhân tố tạo ra sức mạnh của dân tộc Mỹ. Chủ nghĩa thực dụng là giá trị nềntảng, danh mục tư tưởng độc đáo của người Mỹ, là nhân sinh quan và thế giớiquan của người Mỹ, là biểu tượng tinh thần của văn hóa Mỹ. C.S.Peirce làngười khởi đầu triết học thực dụng. Luận chứng, bảo vệ niềm tin tôn giáo dựatrên những thành tựu khoa học là vấn đề xuất phát và trung tâm của triết họcthực dụng Peirce. Ông biến khái niệm “niềm tin thực dụng” thành khái niệmtrung tâm của triết học thực dụng. Với Peirce, niềm tin là nguồn gốc, nguyêntắc chỉ đạo cả nguyện vọng, cả hành động của con người, “niềm tin thựcdụng” có giá trị to lớn trong đời sống con người. Vấn đề về nội dung của

khái niệm “niềm tin thực dụng”, khác biệt giữa nó với niềm tin tôn giáo, niềmtin khoa học là vấn đề còn bỏ ngỏ trong thống kê về triết học thực dụng,song nó lại cho thấy rằng giá trị và hạn chế của triết học thực dụng. do đó, nghiêncứu “niềm tin thực dụng” trở thành yêu cầu cấp bách về mặt lý luận.Thêm vào đó, triết học thực dụng ở ta còn bị hiểu chưa đúng và chưa sâu,bị mạo nhận là tất cả những gì xấu xa trong lối sống của người Việt hôm nay.Do vậy, chúng ta cần thống kê “tận gốc” triết học thực dụng, tức khái niệm“niềm tin thực dụng” trong triết học Peirce, để hiểu đúng triết học thực dụng,làm rõ tổng giá trị và Giảm của nó, qua đó có thể đối thoại bình đẳng và có vănhóa với triết học Mỹ, với văn hóa Mỹ, tiếp thu tinh hoa của chúng.Xuất phát từ những lý do nêu trên, công ty chúng tôi lựa chọn đề tài “Vấn đềniềm tin trong triết học thực dụng Peirce” là đề tài cho luận án tiến sĩ triếthọc của mình.2. Mục đích, nhiệm vụ thống kê của luận ánLuận án nghiên cứu một cách hệ thống những nội dung cơ bản trong quanniệm về niềm tin của Peirce.Để đạt mục đích đó, luận án cần phải giải quyết những nhiệm vụ sau:

3

– Thứ nhất, trình bày, phân tích các khó khăn và tiền đề cho sự ra đời quanniệm về niềm tin của Peirce.- Thứ hai, phân tích các nội hàm cơ bản trong quan niệm về niềm tincủa Peirce.- Thứ ba, bước đầu đưa ra một vài đánh giá nhằm làm rõ tổng giá trị, Giảmtrong quan niệm về niềm tin của Peirce và sự ảnh hưởng của nó đến triết họcthực dụng Mỹ sau ông.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên của luận án này là quan niệm về niềm tin trong triết họcthực dụng C.S.Peirce.

Phạm vi nghiên cứu của luận án: Dưới góc độ triết học, luận án này cốgắng hệ thống, làm rõ những nội dung cơ bản về lý luận niềm tin theo quanniệm của Peirce được thể hiện trong triết học thực dụng của ông thông qua haitác phẩm chính là Củng cố niềm tin, Làm thế nào để tư tưởng chúng ta đượcrõ ràng và một số công trình nghiên cứu có liên quan tới khái niệm này.4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứuCơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cở sở lý luận là triết học Mác -Lênin, chi tiết là những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử.Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp mà luận án sử dụng baogồm, phân tích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, so sánh, quy nạp, diễn dịch, hệ thốnghóa và phương pháp văn bản học.5. Điểm mới của luận án: Luận án góp phần làm rõ quan niệm về niềm tintrong triết học thực dụng của C.S.Peirce, qua đó bước đầu góp phần làm rõnhững giá trị và hạn chế trong quan niệm về niềm tin của triết học thực dụngPeirce, từ đó từng bước góp phần nhận thức đúng về triết học thực dụng.

4

6. Ý nghĩa của luận án: Luận án có khả năng được dùng làm tài liệu tham khảocho việc nghiên cứu, giảng dạy triết học thực dụng, tạo tiền đề để lĩnh hội vănhóa Mỹ nói chung, triết học Mỹ nói riêng trên tinh thần gạn lọc tinh hoa củachúng một cách phù hợp với chiến lược hội nhập của Đảng và Nhà nước ta.7. Kết cấu của luận án: Phù hợp với mục đích và với việc thực hiện cácnhiệm vụ đã nêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trìnhkhoa học đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài luận án và danh mục tàiliệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 12 tiết.Chƣơng 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “VẤN ĐỀNIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG CỦA C.S.PEIRCE”

1.1. Những tác phẩm thống kê về kinh tế – xã hội nƣớc Mỹ, khó khăncho sự hình thành tƣ tƣởng triết học thực dụng PeirceNhững tác phẩm đó bao gồm: Lê Minh Đức – Nguyễn Nghị (1994), Lịchsử nước Mỹ, NXB Văn hóa thông tin; Vương Kính Chi (2000), Lược sử nướcMỹ, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh; Đặng Ngọc Tiến Dũng (2001)Hoa Kỳ phong tục và tập quán, NXB Trẻ, TP.HCM; Jean Pierre Fichou(Dương Linh dịch 2003)Văn minh Hoa kỳ, NXB Trẻ, Hà Nội; Nguyễn TháiYên Hương (2005), Liên bang Mỹ, đặc điểm xã hội – văn hóa, NXB Văn hóathông tin; Hữu Ngọc (2006), giấy tờ văn hóa Mỹ, NXB Thế giới, Hà Nội.1.2. Những tác phẩm nghiên cứu về triết học thực dụng và triết học thựcdụng Peirce1.2.1. nghiên cứu ở trong nướcỞ miền Bắc, trước thời kỳ đổi mới (1986), chúng ta có những tác phẩmthống kê độc lập về triết học thực dụng, như: “Triết học và cuộc đấu tranh ýthức hệ” (1982), NXB Thông tin lý luận; Phạm Minh Lăng (1984) Mấy tràolưu triết học phương Tây, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

5

Trong thời kỳ đổi mới, có các công trình liên quan trực tiếp và gián tiếpđến chủ nghĩa thực dụng gồm:Ấn phẩm dưới dạng sách về chủ nghĩa thực dụng trong thời kỳ đổi mới(1986) ở nước ta có thể được phân chia ra thành hai loại cơ bản sau:Thứ nhất, các tác phẩm nghiên cứu một cách trực tiếp về triết học thựcdụng; bao gồm: Bùi Đăng Duy – Nguyễn Tiến Dũng (2005), Triết học Mỹ,NXB Tổng hợp TP.HCM; Đỗ Kiên Trung (2010), Triết học tân thực dụng,NXB Tri thức; Trịnh sơn Hoan (2012), William James và chủ nghĩa thực dụngMỹ, NXB Chính trị Quốc gia.Thứ hai, các tác phẩm nghiên cứu gián tiếp về triết học thực dụng, baogồm: Nguyễn Ngọc Long (1998), Triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít

và tác động của nó đến Việt Nam Hiện tại, Khoa Triết học, Học viện Chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh; Phạm Minh Lăng (2001), Những chủ đề cơ bản củatriết học phương Tây, NXB VHTT, HN; Bùi Đăng Duy – Nguyễn Tiến Dũng(2003), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại, NXB Chính trị Quốc gia;(2005) Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, NXB Tổng hợp TPHCM;Trường Đại học Khoa học học xã hội và Nhân văn Hà Nội – Khoa triết học(2007), Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX, NXB Đại học Quốc giaHà Nội; Mai Sơn (2007), 101 triết gia, NXB Tri thức; Phan Quang Định(2008), Toàn cảnh triết học Âu Mỹ, NXB Văn học; Đỗ Minh Hợp, NguyễnThanh, Nguyễn Anh Tuấn (2008), Đại cương triết học phương Tây hiện đại(nửa sau thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX), NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh.Ở cấp độ luận văn, luận án, đã có các công trình nghiên cứu liên quanđến chủ nghĩa thực dụng như sau: Nguyễn Tiến Dũng (2002) Chủ nghĩa thựcdụng Mỹ và sự biểu hiện ở Thừa Thiên Huế; Nguyễn Ngọc Ba (2003) Ảnhhưởng của chủ nghĩa thực dụng đến nhân cách người cán bộ hậu cần quânđội nhân dân Việt Nam Hiện tại; Trần Hải Yến (2003) Chủ nghĩa thực dụng

Mọi Người Xem :   Vi phạm hợp đồng tiếng Anh là gì - 1 số ví dụ - JES

6

Mỹ và sự biểu hiện của nó ở Việt Nam; Lê Thị Hương (2004) Chủ nghĩa thựcdụng Mỹ và cuộc đấu tranh chống lối sống thực dụng ở nước ta Hiện tại;Trần Thị Hoa (2006) Chủ nghĩa thực dụng của Jonh Dewey; Trịnh Sơn Hoan(2007) Triết học William James; Lê Thị Bình (2009) Triết lý giáo dục củaJonh Dewey trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục”; Phan Thị Thùy Dương(2009), Quan niệm của Wiliam James về chân lý; Trần Thị Nhàn (2011), Triếthọc thực dụng Mỹ; Phan Văn Thám (2011), Vấn đề kinh nghiệm trong chủnghĩa thực dụng Mỹ; Nguyễn Văn Thỏa (2011), Vấn đề chân lý trong triết họcthực dụng Mỹ. Dưới góc độ thống kê khoa học đã có: Công trình dự thigiải thưởng “Sinh viên thống kê khoa học” (2007) Ảnh hưởng của chủnghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí

Minh hiện nay. Các bài viết đăng trên các tạp chí, gồm có: Nguyễn Hào Hải(1997) Chủ nghĩa thực dụng Mỹ qua một số đại biểu của nó, Tạp chí Triếthọc, (4); Nguyễn Tiến Dũng (1997), Chủ nghĩa thực dụng Mỹ, Tạp chí ChâuMỹ ngày nay, (1); Nguyễn Văn Hùng (2010), Charles Sanders Peirce – Ngườisáng lập chủ nghĩa thực dụng Mỹ, Tạp chí Triết học, (5); Trần Sĩ Phán (2012),Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến lối sống của sinh viên Việt Nam hiệnnay, Tạp chí Lý luận chính trị, (3); Đỗ Kiên Trung (2012), quá trình chuyểnbiến tư tưởng trong triết học tân thực dụng của Richard Rorty, Tạp chí Khoahọc xã hội, (4); Trịnh Sơn Hoan (2012), Những đánh giá bước đầu về chủnghĩa thực dụng Mỹ, Tạp chí Triết học, (6) và Richard Rorty với quan điểmchống thuyết đại diện, Tạp chí Triết học, (4); Nguyễn Văn Thỏa (2012),C.S.Pierce với quan niệm về chân lý, Tạp chí Triết học, (12).1.2.2. thống kê ở ngoài nướcDo Giảm về ngôn ngữ và có khả năng tiếp cận với nguồn tài liệu nướcngoài, Chúng Tôi chỉ có khả năng kể ra đây một số ít các công trình về triết học thựcdụng, như: M.Eber. Chủ nghĩa thực dụng, Sant Peterburg, 2001; S.L.Frank,

7

Chủ nghĩa thực dụng như một học thuyết nhận thức luận, Sant Peterburg,2003; Yu.K.Melvil, C.S.Peirce và chủ nghĩa thực dụng, 1998; L.B.Makeeva,Triết học H.Putam, Moscow, 1996; S.N.Yulina, Chủ nghĩa thực dụng hậuhiện đại của R.Porti, Moscow, 1998; E.Moore, Chủ nghĩa thực dụng Mỹ:Peirce, James và Dewey, N.Y., 1961; Ch.Morris. Trào lưu thực dụng trongtriết học Mỹ, N.Y, 1970; H.S.Thayer, Ý nghĩa và hành động: Một lịch sử quantrọng của Chủ nghĩa thực dụng. Những năm gần đây, có thường xuyên tác phẩmnghiên cứu về triết học phương Tây, trong đó có nghiên cứu về chủ nghĩathực dụng, được các dịch giả Việt Nam dịch và xuất bản, như: Viện triết học(1996), Triết học phương Tây hiện đại từ điển; Dị Kiệt Hùng (2004) UyliamGiêmxơ, NXB Thuận Hóa; M.J.Adler (2004) Những tư tưởng lớn từ những

tác phẩm vĩ đại, NXB VHTT, HN; S.E.Stumpf và D.C.Abel (2004) Nhậpmôn triết học phương Tây, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh; Lưu Phóng Đồng(2004), Triết học phương Tây hiện đại, NXB Chính trị Quốc gia;S.E.Stumpf và D.C.Abel (2005), Nhập môn triết học phương Tây, NXBTổng hợp TP HCM; D.E.Cooper (2005), Các trường phái triết học trên thếgiới, NXB Văn hóa Thông tin; T.Honderich (2006) Hành trình cùng triếthọc, NXB Văn hóa Thông tin; S.E.Stumpf (2007); Lịch sử triết học và cácluận đề, NXB Lao động; S.Brown, D.Collinson, R.Wilkinson (2010), 100triết gia tiêu biểu thế kỷ XX, NXB Lao động; R.Bodei (2011), Triết học thếkỷ XX, NXB Thời đại.1.3. Những tác phẩm nghiên cứu về quan niệm niềm tin trong triết họcthực dụng của Peircethống kê về niềm tin nói chung, chúng ta có thể kể đến một số tácphẩm như:: V.M.Bôguxlapsxki, Trí thức và niềm tin tôn giáo; NguyễnTrọng Chuẩn (2000), Lòng tin của dân – thước đo uy tín và sức mạnh củaĐảng, Tạp chí Triết học, (1); Trịnh Đình Bảy (2002), Niềm tin với tư cách

8

là một khái niệm triết học, Tạp chí Triết học (2), (2003), Niềm tin và xâydựng niềm tin khoa học, NXB Chính trị Quốc gia .Như vậy, theo lịch sử nghiên cứu nói trên, trong những công trình nghiêncứu của các nhà triết học và khoa học xã hội nhân văn về chủ nghĩa thực dụngđã có nhiều định nghĩa khác nhau, tiếp cận từ các góc độ khác nhéu; tuy vậy,về cơ bản có khả năng xếp các ý kiến đó theo một số các nội dung sau:Thứ nhất, cho rằng triết học thực dụng là một biến thể của triết học duytâm chủ quan, được hình thành và thường nhật khá rộng rãi ở Mỹ, phản ánh lậptrường cũng như lợi ích của giai cấp Tư sản, là hệ thống quan điểm tuyệt đốihóa lợi ích trước mắt, cho mình, không quan tâm đến những mặt khác. Thiếtnghĩ, những quan điểm như vậy về chủ nghĩa thực dụng cần được tranh luận

thêm để làm sáng tỏ về bản chất của chủ nghĩa thực dụng.Thứ hai, chủ nghĩa thực dụng được coi là một trào lưu triết học đề caokinh nghiệm và hiệu quả. Các ông xuất phát từ một phương pháp nhằm đơngiản hóa những quan niệm và những khái niệm bằng cách làm rõ nghĩa củachúng, để đạt tới tri thức và xóa bỏ sai lầm. Điều tất nhiên là chủ nghĩa kinhnghiệm của triết học thực dụng ắt sẽ có những sự khác biệt với chủ nghĩakinh nghiệm truyền thống theo kiểu Hume.Thứ ba, về vấn đề niềm tin trong triết học thực dụng nói chung và là mộttrong những nội dung đặc sắc của triết học thực dụng Peirce vẫn chưa đượcgiới triết học trong nƣớc quan tâm thỏa đáng, còn rất ít những thống kêchuyên biệt về nội dung này.Căn cứ vào lịch sử nghiên cứu nói trên, đặc biệt là nghiên cứu trongnước, thì việc nghiên cứu về triết học thực dụng nói chung còn ít ỏi, cho đếnthời điểm này chưa có công trình khoa học nào đề cập một cách trực tiếp đếntriết học thực dụng của C.S.Peirce tương đương là vấn đề niềm tin thực dụngtrong triết học của ông.

9

Chƣơng 2ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM“NIỀM TIN THỰC DỤNG” CỦA PEIRCE2.1. Điều kiện kinh tế – xã hội nƣớc Mỹ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XXNước Mỹ, về mặt một cách tự nhiên, với những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển mộtnền kinh tế giầu có; về mặt xã hội với đặc trưng thường xuyên cộng đồng dân cư di dânđến cùng chung sống, tạo nên sự thống nhất và phong phú về mặt văn hóa. Chínhbắt buộc thống nhất trong sự phong phú để khẳng định sự tồn tại độc lập của mỗimột con người Mỹ mà chủ nghĩa thực dụng đã được nảy sinh. Trong hệ thốngcác trường phái triết học có mặt tại Mỹ, thì chủ nghĩa thực dụng được xem làbiểu trưng của văn hóa, tính cách con người Mỹ.

2.2. Mấy nét về cuộc đời và sự nghiệp của Charles Sanders PeirceCharles Sanders Peirce (1839 – 1914) là nhà triết học, lôgíc học, toán học vàtự nhiên học. Nhưng trên hết, ông được thừa nhận là người sáng lập chủ nghĩathực dụng Mỹ. C.S.Peirce phát sinh và lớn lên ở bang Massachusetts, nước Mỹ,trong một gia đình trí thức, cha ông là một giáo sư toán học có tên tuổi ở Đại họcHarvard. Peirce đã có được nhiều thành tựu xuất sắc không những trên lĩnh vực triếthọc, lôgíc học, tôn giáo học, mà cả trên các lĩnh vực khoa học một cách tự nhiên, như toánhọc, vật lý học, hóa học, trắc địa học và lịch sử khoa học. Ông còn có nhữngcống hiến nhất định trong lĩnh vực tâm lý học, thần giao cách cảm, tội phạm học,Ai Cập học, lịch sử cổ đại và cả về Hoàng đế Napoleon. Ông mất năm 1914trong cảnh cô đơn bởi căn bệnh ung thư. Sau khi C.S. Peirce qua đời, đầu nhữngnăm 20 của thế kỷ XX, di sản lý luận của ông, bao gồm các bản thảo và bảnnháp viết tay, mới lần lượt được xuất bản. Năm 1923, Tuyển tập triết học củaông được xuất bản. Tập thứ nhất của tuyển tập này có tên gọi Cơ hội, tình yêu vàlôgíc. Từ năm 1931 đến năm 1935, Đại học Harvard cho xuất bản Tập luận văncủa Peirce gồm 6 tập và vào năm 1958, cho xuất bản tiếp tập 7 và 8.

10

2.3. Tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời quan niệm “niềm tin thực dụng”của Peirce2.3.1. Peirce giải quyết xung đột giữa khoa học với tôn giáo cuối thế kỷ XIXChính xung đột mang tính thời đại giữa thế giới quan khoa học và thế giớiquan tôn giáo trở thành cội nguồn của những mâu thuẫn và chiếc chìa khóa chophép làm sáng tỏ toàn bộ triết học Peirce và quan niệm “niềm tin thực dụng” củaông. Đứng trước bối cảnh này, Peirce hoàn toàn không có ảo tưởng về quan hệđã hình thành giữa khoa học và tôn giáo. Chính mâu thuẫn này sẽ để lại dấu ấncủa mình trong toàn bộ nội dung triết học thực dụng Peirce và quan niệm “niềmtin thực dụng” của ông được xây dựng như một thử nghiệm dung hòa nó.2.3.2. Thái độ của Peirce đối với truyền thống triết học duy lý phương Tây

cận hiện đạiSự phê phán của Peirce đối với Descartes nói riêng và triết học duy lý TâyÂu cận hiện đại nói chung được thể hiện chủ yếu ở những phương diện sau:Một là, Peirce cho rằng, sự hoài nghi thường nhật – xuất phát điểm của triết họcDescartes trên thực tế không thể có, sự hoài nghi phổ biến hoàn toàn là một thứtự dối mình, trong nhận thức và hành động người ta không thể chỉ có hoài nghi,mà cần phải có niềm tin, phải coi nhận thức và hành động là một quy trình hiểuthực tế cụ thể.Hai là, Peirce cho rằng, cái « tôi tư duy » được Descartes coi là cái duy nhấtkhông thể hoài nghi, vẫn chưa vượt qua phạm vi hẹp của bản ngã, từ đó khẳngđịnh tính tuyệt đối, xác định, đáng tin cậy của tri thức quan niệm, có nghĩa là chorằng, trực quan của ý thức cá nhân là có tính xác định và tuyệt đối đáng tin cậy,cho rằng phàm những vật gì tôi tin chắc thì đều đặn là thật.Ba là, Peirce phê phán tính tư biện, giáo điều của triết học duy lý phươngTây cận hiện đại.

11

Chƣơng 3NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM“NIỀM TIN THỰC DỤNG” CỦA PEIRCE3.1. quy trình hình thành khái niệm “niềm tin thực dụng”3.1.1. Khái niệm chung về “niềm tin”3.1.1.1. ngôn từ “niềm tin”thuật ngữ “niềm tin” trước hết thường được dùng trong một số hệthống tôn giáo để chỉ lập trường thế giới quan trung tâm và cùng lúc ấy là địnhhướng tâm lý.Niềm tin bao gồm: Thứ nhất, việc thừa nhận những định đề (giáo lý) xácđịnh, chẳng hạn như giáo lý về tồn tại và bản chất của Chúa Trời, về cái gì là

thiện và ác đối với con người, v.v., và tính kiên định bảo vệ những giáo lý ấymột cách trái ngược với mọi hoài nghi (được đánh giá như là những “cám dỗ”).Thứ hai, sự tin tưởng cá nhân đối với Chúa Trời như Người tạo dựng cuộcsống của tín đồ, Người dẫn đường, giúp đỡ và cứu rỗi trong mọi trường hợp cụthể, Người loại bỏ mọi đau khổ và đưa ra những bắt buộc nan giải đối với hạnhphúc của bản thân tín đồ.Thứ ba, sự trung thành cá nhân đối với Chúa Trời mà tín đồ tự hiến dângcuộc đời của mình để phục sự.có khả năng phân biệt các khái niệm “niềm tin tôn giáo” và “niềm tin triết học”.3.1.1.2. “Niềm tin tôn giáo”“Niềm tin tôn giáo” là khái niệm được sử dụng để chỉ đặc điểm chung củaý thức tôn giáo. Không phải bất kỳ niềm tin nào cũng là niềm tin tôn giáo.Niềm tin tôn giáo tồn tại được là nhờ có một hiện tượng tâm lý đặc biệt trongcon người, nó xuất hiện trong tình huống tiềm tàng, khi có thể để hànhđộng thắng lợi, để có kết cục tốt đẹp của hành động ấy, có tri thức về khả năngấy. Nó được thể hiện là niềm tin: a) vào sự tồn tại khách quan của những thực

Mọi Người Xem :   Phiếu mua hàng tiếng Anh là gì

12

thể, những thuộc tính, những mối LH, những chuyển hoá vốn là sản phẩmcủa quy trình bản thể hoá; b) vào có khả năng giao tiếp với những thực thể kháchquan tưởng tượng; c) vào sự diễn ra thật sự của những sự kiện thần thoại nàođó, vào tính lặp lại của chúng, vào tính có liên hệ với chúng; d) vào tính chânthực của những biểu tượng, quan điểm, giáo lý, văn bản, v.v. tương ứng; e)vào các quyền uy tôn giáo – các cha đạo, các thánh, các sư, các nhà tiên tri,những người tu hành, v.v3.1.1.3. “Niềm tin triết học”“Niềm tin triết học” là khái niệm không thường nhật và không chặt chẽ về mặtnội dung, có nhiệm vụ nhấn mạnh sự đặc thù của tư duy triết học (so với tư duykhoa học và tư duy thần học) như tư duy thực hiện và minh biện sự lựa chọn

những hoạch định thế giới quan xuất phát. Niềm tin triết học chủ yếu gắn liềnvới hoạt động trực giác trí tuệ và trước hết tự khẳng định mình ở nơi không cócó khả năng tiếp cận với đối tượng quan tâm (đề tài) bằng con đường lôgíc hay conđường kinh nghiệm. Điểm khác biệt giữa niềm tin triết học với các hình thứcvận hành nhận thức phổ biến là tác động một cách đáng kể của nhân tố chủ quan.3.1.2. Khái niệm “niềm tin thực dụng”3.1.2.1. Điểm khởi đầu để Peirce xây dựng khái niệm “niềm tin thực dụng”Tư tưởng triết học thực dụng và quan niệm “niềm tin thực dụng” củaPeirce xuất hiện như là hệ quả của những tư tưởng cấu thành lý luận nhận thứcđược Peirce đưa ra vào cuối những năm 1860 nhằm chống lại triết học duy lýcủa Descartes. Đặc điểm quan trọng nhất của lập trường nhận thức luận củaPeirce là hiện tượng luận về ký hiệu.Để xây dựng niềm tin thực dụng, Peirce còn dựa vào tiến hóa luận củaDarwin. Theo quan vị trí này, tư duy chỉ được xem xét từ góc độ sự thỏa mãntrực tiếp nó mang lại cho cơ thể. Sự thỏa mãn này được xem là cái gắn liền vớiviệc điều tiết những phản ứng của cơ thể đối với tác động từ bên ngoài đến nó và

13

với việc tìm kiếm các hình thức phản ứng hay hành vi thuận lợi nhất đối với nóvề mặt tâm lý. Như vậy, Peirce gắn liền thỏa mãn tâm lý với tiềm lực hành độnghữu hiệu. Đây chính là cơ sở để Peirce luận chứng cho niềm tin thực dụng.Không dừng lại ở luận cứ khoa học một cách tự nhiên, Peirce còn dùng luận cứtriết học. Trong quy trình hình thành tư tưởng triết học của mình về niềm tin,Peirce đã chịu tác động trực tiếp từ Kant. Ông đã xuất phát từ sự phân biệtcủa Kant về niềm tin thực dụng với cái thực dụng và thực tiễn mà đề xướngquan niệm về niềm tin trong chủ nghĩa thực dụng của mình.3.1.2.2. Các nội dung cơ bản của khái niệm “niềm tin thực dụng”a) Niềm tin là thái độ sẵn sàng hành độngVới quan niệm “niềm tin là thái độ sẵn sàng hành động”, lý luận xác định

niềm tin của Peirce gắn liền với việc nhấn mạnh công dụng của hành động đốivới sự sinh tồn của con người. Peirce cho rằng, bất cứ ai muốn sống đều đặn phảicó hành động nhất định, mà muốn hành động hiệu quả ắt phải có một vài quytắc, chúng xác định trong điều kiện nhất định con người phải hành động nhưthế nào mới thu được hiệu quả mong đợi. Các quy tắc hoặc thói quen hànhđộng ấy nếu được người ta tiếp thu, sẽ trở thành niềm tin của họ. Theo Peirce,niềm tin có ba đặc tính là: Đầu tiên, nó là điều chúng ta nhận biết được; thứhai, nó xóa đi sự khó chịu do hoài nghi mang lại; và thứ ba, nó liên quan đếnbản chất thiết lập hành động thành quy tắc, hay, ngắn gọn lại là thói quen.b) Niềm tin là mặt đối lập của hoài nghiDưới con mắt của Peirce, điểm xuất phát là một niềm tin, niềm tin là một sựhiển nhiên và đi tới hoài nghi (đặt niềm tin đối lập với hoài nghi) có căn cứ trởthành điểm quá độ sang một niềm tin mới. Niềm tin và hoài nghi luôn nằm trongthể thống nhất và mâu thuẫn với nhau. Trong mối quan hệ giữa niềm tin và hoàinghi, hoài nghi có vai trò là động lực để đạt tới niềm tin, không có hoài nghi thìsẽ không thể đạt được niềm tin, niềm tin không xác định. Theo Peirce, cả hoài

14

nghi và niềm tin đều đặn có những công dụng tích cực nhất định lên con người, mặcdù chúng khác nhau. Niềm tin không chỉ thúc đẩy ta hành động trong phút chốc,mà còn đặt chúng ta vào một trạng thái quyết định hướng hành động của chúngta khi sự kiện nào đó xảy ra. Hoài nghi không có tác động tích cực như vậy,mà chỉ đẩy nhanh con người tiến lên cho tới khi nó bị dẹp bỏ.3.2. Phƣơng pháp củng cố niềm tin3.2.1. Phương pháp kiên tâmThực chất của phương pháp kiên tâm là, trong mọi vấn đề, người ta đều đặncần phải kiên trì ý kiến của mình, coi đối tượng niềm tin của mình là bất biến,không dao động, đồng thời có thái độ căm ghét và miệt thị chống lại tất cảnhững gì có khả năng hủy hoại ý kiến ấy.

3.2.2. Phương pháp quyền uyMối quan hệ của phương pháp này với “niềm tin thực dụng” là: Như đãrõ, chính Peirce đã đặt ra nhiệm vụ xác lập một niềm tin thống nhất cho mọingười và phương pháp quyền uy cho phép đạt tới mục đích như vậy, nên ônghoàn toàn không phản bác nó mà còn tán thành nó.3.2.3. Phương pháp tiên nghiệmPhương pháp tiên nghiệm thường được những người có trình độ trong xãhội sử dụng, họ không tiếp nhận tính cực đoan và tuỳ tiện của phương phápkiên tâm, cũng không chấp nhận tính ngang ngược của phương pháp quyềnuy, họ muốn chứng minh niềm tin của họ có đầy đủ căn cứ tri thức, phù hợpvới yêu cầu của lý tính vĩnh hằng, họ coi hệ thống của mình là hệ thống lý tínhvĩnh hằng, thực tế là họ xuất phát từ niềm tin kiên định của mình mà xây dựnghệ thống của mình. Phương pháp này không khác về bản chất so với phươngpháp kiên tâm, Peirce cũng không tán thành, do vậy, Peirce chuyển sangphương pháp khoa học.

15

3.2.4. Phương pháp khoa họcPeirce cho rằng, đây là cách hấp dẫn nhất để xác định niềm tin.Phương pháp này cần dẫn tới ý kiến thống nhất của tất cả những người sửdụng nó, để “ý kiến cuối cùng của mỗi người là ý kiến chung của mọi người”.Đây chính là cách khoa học. Peirce nói tới ba phương pháp trongphương pháp khoa học thường được dùng là phương pháp quy nạp, diễn dịch,sự hợp nhất giữa quy nạp và diễn dịch, đồng thời ông cũng chỉ ra tính dễ bị tổnthương của của niềm tin khoa học, do vậy không có giả thuyết nào mà khôngkiểm tra được.3.3. Vấn đề về tính chân thực trong quan niệm “niềm tin thực dụng”3.3.1. Nguyên lý Peirce – cơ sở để xác định tính chân thực của “niềm tinthực dụng”

Nguyên lý này được Peirce thể hiện thong qua lý thuyết “Về một bảngphạm trù mới”. Peirce tách biệt ba phạm trù, hay chính xác hơn là ba nhómphạm trù: Phạm trù thứ nhất biểu thị chất lượng, còn xét về phương diện hìnhthức thì là đơn tử; phạm trù thứ hai biểu thị sự thực tồn, xét về phương diệnhình thức là nhị tử; phạm trù thứ ba biểu thị quy luật, xét về phương diện hìnhthức là bộ ba. Trong tổng thể của mình, Peirce gọi học thuyết về ba phạm trùnày là “hiện tượng học”. Ông muốn nói tới việc phân tích phương diện củakinh nghiệm thể hiện là kết quả nhận thức đời sống của chúng ta. Ba thành tốcơ bản của kinh nghiệm này được nắm bắt thông qua ba phạm trù nêu trên.Chúng có tác động tương hỗ lẫn nhéu, trong đó, loại phạm trù số ba điều tiếtloại phạm trù số một và số hai. Nhờ sự điều tiết này, nó đem lại tính liên tục,thường nhật và quy tắc cho sự vận động của sự vật, tạo thành quy luật. Bộ baphạm trù này chính là cơ sở để Peirce xây dựng hệ thống tri thức siêu hình.3.3.2. Niềm tin không thể hoài nghi – chân lýPeirce sử dụng khái niệm “chân lý” không phải theo nghĩa nhận thứcluận. Mà tiếp cận nó từ phương diện mục đích luận, Peirce đưa ra hai quan

16

niệm về chân lý là: 1) chân lý là niềm tin không bị hoài nghi; 2) chân lý làcái cho phép đạt tới mục đích, thực hiện chủ ý.Quan niệm về chân lý của Peirce được thể hiện ở những nội dung cơbản sau:Thứ nhất, vấn đề chân lý không được Peirce nêu ra thành một nội dungđộc lập, mà được thể hiện qua lý luận hoài nghi – niềm tin và lý luận vềnghĩa của khái niệm, thậm chí ông còn nhấn mạnh nghĩa của khái niệm hơncả thuyết chân lý.Thứ hai, trong các phương pháp để làm cho tư tưởng được rõ ràng, Peircenhấn mạnh vai trò của phương pháp khoa học để xác định niềm tin và cũng làphương pháp nhận thức chân lý.

Thứ ba, có thể thấy rằng, một trong số những đặc trưng của lý luận nhậnthức thực dụng mà Peirce đặt nền móng là đồng nhất chân lý với tính hiệuquả; điều này đã thể hiện rõ bản chất của vấn đề chân lý trong chủ nghĩathực dụng.Như vậy, với tư cách là một phạm trù triết học đặc trưng trong triết họcthực dụng Peirce, Chúng Tôi nhận thấy rằng: Niềm tin thực dụng thể hiện quanniệm sống, thế giới quan, lý tưởng của con người Mỹ; trước hết nó là mộtdạng thuộc thế giới tinh thần, một khâu, một yếu tố trong kết cấu của ý thức vàlà mong muốn sống của con người Mỹ trong quan hệ với nhéu và với thế giớikhách quan; niềm tin thực dụng là sự thừa nhận tính chân lý về hiện tượng, sựvật, quy trình mà không cần chứng minh, nó được hình thành trên kinhnghiệm và thực tiễn, tri thức khoa học, nó hoàn toàn đối lập với niềm tin củacác tín điều tôn giáo, tương đương chủ nghĩa duy tâm thần bí; nó trở thành mộtđộng lực tinh thần mạnh mẽ đẩy nhanh tính tích cực thực tiễn của con người,góp phần đưa xã hội phát triển.

17

Chƣơng 4THỰC CHẤT VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA “NIỀM TIN THỰC DỤNG”4.1. Bƣớc đầu đánh giá về quan niệm niềm tin thực dụng của Peirce4.1.1.Thực chất của quan niệm “niềm tin thực dụng”Trên cơ sở giải quyết mâu thuẫn cũng như là sự xung đột giữa khoa họcvới tôn giáo, Peirce đã đưa khoa học vào niềm tin như một giải pháp để dunghòa mâu thuẫn giữa chúng và xây dựng niềm tin thực dụng. Ông phân tích vàtrả lời câu hỏi, cần phải tin vào cái gì? Nếu như trước đây niềm tin tôn giáo,niềm tin của Tin lành giáo là niềm tin vào cái tốt (thiện) và cái đẹp (mỹ). Vượtlên trên tình trạng này, Peirce cho rằng cần phải tin vào cái đúng, ông đã chuyển đốitượng của niềm tin từ tin vào cái tốt, cái đẹp thành tin vào cái đúng., vậy làm

thế nào để biết được cái đúng? Peirce cho rằng cần phải căn cứ vào thực tiễn,chính các hiệu quả trong thực tiễn sẽ giúp chứng minh cái đúng, nếu chứngminh được là đúng kéo theo tin, niềm tin được hình thành và củng cố. Nhưnglàm thế nào để chứng minh cái đúng. Giải đáp nội dung này, Peirce đã đưa rahệ các phương pháp, trong đó ông nhấn mạnh đến phương pháp khoa học.4.1.2. Niềm tin thực dụng – giá trị và hạn chếmột vài giá trị trong quan niệm về niềm tin thực dụng của PeirceThứ nhất: Trên cơ sở giải quyết mâu thuẫn giữa tôn giáo và khoa học,Peirce đã đưa ra lý thuyết niềm tin thực dụng như một thể nghiệm để dung hòamâu thuẫn giữa chúng. Điều này có tác dụng, một mặt vừ khai thác được vaitrò của niềm tin, mặt khác lại phát huy được vai trò của khoa học.Thứ hai: Niềm tin thực dụng là niềm tin được xây dựng trên cơ sở căn cứvào HIỆU QUẢ mà nó đem lại cho chủ thể với tư cách là cơ sở hành động,như là một tập tính hành độngThứ ba: có thể nhận thấy rằng, niềm tin thực dụng đã thể hiện tinh thầntỉnh táo của một niềm tin khoa học. Qua đó tạo hậu thuẫn cho ý chí vươn vượt

Mọi Người Xem :   H&M

18

của người Mỹ, phóng vào thực tiễn để tìm kiếm sự thành công, khẳng định sựtồn tại của mình.Thứ tư: Một đặc điểm quan trọng khác của phương pháp khoa học với tínhcách là hạt nhân của lý luận thăm dò (lý luận hoài nghi) để xác lập niềm tin củaPeirce là nhấn mạnh đến quá trình tiến bộ và phát triển, chống bảo thủ, trì trệ.Quan vị trí này của Peirce đã có những nhân tố tích cực nhất định.Thứ năm: Trung tâm của niềm tin thực dụng được thể hiện rõ rệt nhất ởnội dung giá trị luận và thực tiễn luận của nó. Điều này đã không những tạo ranét đặc trưng riêng của niềm tin thực dụng so với các niềm tin trước đó trongtriết học truyền thống mà nó còn tạo ra nét đặc sắc của chủ nghĩa thực dụngvới quan niệm trung tâm về niềm tin.

một số Giảm trong quan niệm về niềm tin thực dụng của PeirceThứ nhất: Peirce đã thể hiện sự sùng bái khoa học, mang tính duy khoahọc trong việc xây dựng niềm tin.Thứ hai: Khi chuyển đối tượng của niềm tin từ tin vào cái tốt (thiện), tinvào cái đẹp (mỹ) chuyển thành tin vào cái đúng (chân). Coi cái đúng là cái tốt,cái đẹp, có chiều hướng đồng nhất giữa chúng.Thứ ba: Lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo để xây dựng và củng cố niềmtin, làm cho niềm tin được xác thực. Điều này vô hình dung Peirce đã làm cho lĩnhvực tâm linh, niềm tin vào cái siêu việt bị thế tục và phàm tục hóa.Thứ tư: Khi đặt niềm tin trong mối quan hệ với tri thức, Peirce lấy tri thứckinh nghiệm để làm cán cân, đối trọng trọng việc xác định niềm tin thực dụng.tuy nhiên, khi giải thích sự thực và kinh nghiệm, Peirce thường loại bỏ cơ sởkhách quan của nó. Tiêu chuẩn của ông về sự rõ ràng, trong sáng của quanniệm lại thường không phải là sự thực khách quan, mà là quan niệm có tạo nênhiệu quả thực tế cho con người hay không.

19

Thứ năm: Trong lý luận về xác định niềm tin của mình, Peirce đã liệt kêvà chỉ ra có bốn phương pháp xác định và củng cố niềm tin, tuy nhiên chỉ cóphương pháp khoa học được ông tín nhiệm và coi là đủ tin cậy để hình thànhnên niềm tin cho con người. Sự trình bày về phương pháp khoa học của Peircequả thật có nhân tố khách quan và khoa học, nhưng ông lại coi hiệu quả thực tếcủa con người làm ra là tiêu chuẩn thực tế và sự thực, là tiêu chuẩn căn bản xácđịnh niềm tin, như thế yếu tố khách quan, quy luật vĩnh hằng chung quy cũngphụ thuộc vào hiệu quả, và như vậy, trong quan niệm của Peirce có khả năng sẽ bịngả về, bị đánh giá là mang lập trường của chủ nghĩa duy tâm chủ quan.4.2. Ảnh hƣởng của quan niệm về niềm tin thực dụng của Peirce đến mộtsố đại diện tiêu biểu trong triết học thực dụng Mỹ sau Peirce4.2.1. Ảnh hưởng của quan niệm về “niềm tin thực dụng” của Peirce đến

triết học thực dụng của W.James và J.DeweyTriết học thực dụng do C.S.Peirce đặt nền móng tại Mỹ, phản ánh tínhcách, tâm lý và văn hóa con người Mỹ. Sau C.S.Peirce, triết học thực dụng tiếptục được phát triển bởi W.James và J.Dewey. Với tư cách là “rường cột” củatriết học thực dụng Peirce, các giá trị cơ bản của niềm tin thực dụng thông quatriết học thực dụng đã được W.James và J.Dewey tiếp tục phát triển. NếuC.S.Peirce người đã đề ra phương pháp của tư duy của triết học thực dụngđồng thời là người sáng tạo ra tên của triết học thực dụng, thì W.James làngười đã quảng bá chiều hướng triết học thực dụng và làm cho nó nổi tiếng trêntoàn thế giới. Công lao của W.James là ở chỗ làm cho triết học thực dụng thoátkhỏi biên giới nhỏ hẹp của nước Mỹ để đến với các nước trên thế giới vàW.James cũng đã hoàn thiện nguyên lý thực dụng của C.S.Peirce làm cho nótrở nên hoàn chỉnh. Còn J.Dewey đã rút ra từ triết học thực dụng những hệ quảtrong giáo dục, chính trị và đã làm cho triết học thực dụng được ứng dụng mộtcách thường nhật vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của nước Mỹ. Ba nhà tư

20

tưởng này “trong khuôn khổ của triết học thực dụng đều gặp nhéu ở chỗ họcho con đường tuyệt vời của họ là nhìn học thuyết của họ như là một phươngpháp xác định những khái niệm và những luân lý trong sự phát triển củanhững hiệu quả của chúng.”4.2.2. Ảnh hưởng của quan niệm về “niềm tin thực dụng” của Peirce đếnmột số nhà triết học thực dụng hiện đại (tân thực dụng)4.2.2.1. Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện chủ nghĩa tân thực dụngVào những năm nửa cuối thế kỷ XX, nước Mỹ hùng mạnh rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng về kinh tế, hỗn loạn về mặt xã hội và rối ren về mặt chínhtrị. Chính những vấn đề nóng bỏng được đặt ra vào những năm nửa cuối thếkỷ XX đã làm lung lay đến tận gốc rễ nền tảng tinh thần và giá trị của nướcMỹ. Từ bối cảnh khủng hoảng tinh thần đó đã thúc đẩy nhu cầu tất yếu phải

hình thành một học thuyết có thể giúp người Mỹ vượt qua những nền tảng xưacũ, lạc hậu để định hình một hướng đi mới, phù hợp, hiệu quả cho nước Mỹ vàtriết học tân thực dụng đã ra đời phục vụ nhu cầu nói trên của lịch sử.4.2.2.2. một vài đại biểu tiêu biểu của triết học tân thực dụng và sự ảnh hưởngcủa “niềm tin thực dụng” của Peirce đối với họSự ra đời của triết học tân thực dụng gắn liền với các nhà triết học như:W.V.O.Quine (1908 – 2000), Hilary Putnam (1926 – ), Paul Churchland (1942- ), Richard Rorty (1931- 2007), Richard Posner (1939 – ), Cornel West (1953 -), v.v., trong đó đặc biệt là Richard Rorty, người đã khiến giới học giả quantâm trở lại đối với thuyết thực dụng một cách rộng rãiVới tư cách là một học thuyết triết học lấy hành động cơ sở, và coi hiệuquả đạt được từ những hành động hiện thực đó là niềm tin, chủ nghĩa thựcdụng đã trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm, hiểu nhầm cũng có, xuyêntạc cũng có, cách tân cũng có; nhưng tựu trung lại, từ thực dụng cổ điển màC.S.Peirce có công sáng lập cho đến tân thực dụng, các triết gia bằng trí tuệ và

21

phong cách tư duy mang hơi thở của nước Mỹ đã luôn nỗ lực hết mình trêncon đường chinh phục những vấn đề của triết học, đem đến cho nó nhữngthông điệp và sức sống mới gắn liền với hiện thực đầy biến động trong một thếgiới luôn không ngừng phóng vượt những chiều kích ngày càng rộng lớn hơn.4.3. Sự lĩnh hội triết học thực dụng nói chung và niềm tin thực dụngcủa Peirce nói riêng ở Việt NamTuy còn nhiều khác biệt nhưng bên cạnh một vài điểm tương đồng về mặttriết lý hoạt động thực tiễn mưu sinh, chủ nghĩa thực dụng và niềm tin thựcdụng mặc dù chưa thực sự gây ảnh hưởng người Việt, chưa đi vào tâm thức,trở thành một “tế bào” trong văn hóa ứng xử của người Việt, nhưng tiềm năngđể niềm tin thực dụng cũng như chủ nghĩa thực dụng bén rễ và bắt nhập vàotrong dòng chảy văn hóa người Việt chúng ta là rất lớn. Triết lý thiết thực, hoạt

động thiết thực truyền thống tương đương niềm tin thực dụng cần được tiếp biến,sáng tạo mới để phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn cách mạng hiệnnay. Trên cơ sở những tổng giá trị của niềm tin thực dụng, nó đã gợi ý cho chúng tavề mặt nguyên tắc phương pháp luận để khai thác, phát huy được sức mạnhvật chất cũng như sức mạnh tinh thần, trí tuệ và sức sáng tạo của quần chúngNhân dân, đó là phải xây dựng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối vớiĐảng và Nhà nước.

KẾT LUẬNSự hình thành và phát triển của triết học thực dụng gắn liền với bối cảnhlịch sử xã hội nước Mỹ, phản ánh tinh thần, lối sống của người Mỹ. Sự xuấthiện của triết học thực dụng gắn liền với tên tuổi của C.S.Peirce (1839 – 1914),sau đó được phát triển bởi W.James (1842 – 1910) và J.Dewey (1859 – 1952).Thế hệ sau khi C.S.Peirce mất mới bắt đầu biết rằng ông là nhà triết học lớnnhất, độc đáo nhất của đất nước. Có nhà thống kê nhìn ông như Leibniz, bởi

22

lẽ họ có tính toàn năng nhưng ít có tính hệ thống trong tiếp cận khoa học và đềucó sự đa dạng của tư duy đang thai nghén. Nói tới Peirce, Russell ví ông nhưhòn núi lửa đang phun ra những khối, ở đó lẫn lộn cả vàng ròng. Từ những năm20 của thế kỷ XX, các trước tác của Peirce lần lượt được xuất bản, và sau khi cáctác phẩm của ông được công bố, người ta thực sự mới phát hiện về ông và thấyông là người đã sáng lập ra triết học thực dụng. Trong những thập kỷ gần đây, tưtưởng của ông lại được đánh giá cao. Hiện tại, ông được nhìn nhận là ngườicanh tân trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là cách luận thống kê và triếthọc khoa học. Bộ từ điển bách khoa Britannia cho ông là “một trí tuệ độc đáo vàđa năng nhất mà nước Mỹ đó sản sinh được cho đến giờ”.Sinh thời, Peirce không tự coi học thuyết của mình là học thuyết triết họcmà chỉ coi nó như một phương pháp làm thế nào để cho tư tưởng của chúng ta

được sáng tỏ, cùng lúc ấy bản thân ông cũng không thích sử dụng từ thực dụng đểđặt tên cho học thuyết của mình. Vì làm như vậy học thuyết của ông sẽ bị hiểusai. Vấn đề lợi ích được đề cập trong quan điểm của triết học thực dụng, khôngđơn thuần chỉ là lợi ích của một bộ phận, một nhóm người mà là lợi ích chung,lợi ích của cả cộng đồng và triết học thực dụng của Peirce mưu cầu lợi ích này,coi đó là động lực, là thước đo, là tiêu chuẩn cho hành động.Trung tâm triết học thực dụng của Peirce chính là “niềm tin thực dụng”.Niềm tin thực dụng của ông được luận chứng từ niềm tin của Tin lành giáo, nhưngnó không phải là một niềm tin tôn giáo, đây là niềm tin của con người ở nơi trầnthế, nó là cội nguồn của sức mạnh, là nguyên tắc chỉ đạo vận hành. Nhờ có niềmtin như vậy mà những người dân di cư từ các lục địa đến đây đã tạo dựng nên mộtbộ mặt mới cho Tân thế giới với vị thế cường quốc số 1 của thế giới.Quả thực, từ ngữ của triết học thực dụng dường như khẳng định luận đề“chân lý là đối tượng của thương mại, mặc khác biệt ngữ triết học đó khôngđồng nghĩa với từ “lợi ích”, trái lại nó chứa đựng nhiều tinh thần thế giới. Người

23

Đức thích thanh cao hoá cuộc sống hàng ngày đến nỗi khó nhận ra. Khi Hegelnói: “tất cả cái gì hiện hữu là duy lý” thì đó là biến thể khá ý nhị như điều màngười Mỹ nói “cái gì có ích là duy lý”. Cả hai điều nói lên sự chính trực về hiệuquả. Một cách rõ ràng hay một cách dấu diếm, các nhà triết học cho chúng tabiết về vận mạng của xã hội của họ. Vì vậy, người ta có khả năng nói tới triết học Mỹ,triết học Đức, triết học Pháp. Người ta cũng có khả năng nói tới sắc thái của mỗi dântộc như một chủ đề, bằng cách so sánh sự đóng góp của chủ đề đó với nhữngchủ đề khác được đề ra trong các thế kỷ qua. Vậy là triết học thực dụng Mỹ vượtqua khá xa lợi ích nói là “tiêu biểu” của Mỹ về lợi ích. Nó cũng làm rõ, ví nhưlợi ích cho là “tiêu biểu” về vật chất hoá lý tưởng đó. Và triết học thực dụngcũng vượt qua lợi ích “tiêu biểu” của Mỹ chỉ khuôn lại ở cái gì là lợi ích và nóitới một cách tiêu biểu theo kiểu Mỹ. Vì vậy có thể nhận thấy rằng cũng cần phải

đối xử đúng đắn với những nhà triết học Mỹ mà lâu nay người ta tập hợp họdưới một cái nhãn quan chung là chủ nghĩa thực dụng.Ngày nay, với đường lối đổi mới, mở cửa do Đảng Cộng sản Việt Namkhởi xướng đã thổi một luồng sinh khí mới cho phép chúng ta đối diện trựctiếp với nhiều khuynh hướng triết học khác nhéu, trên cơ sở đó gạn đục, khơitrong nhằm không những tiếp thu các tổng giá trị tích cực để hoàn thiện và pháttriển lý luận cách mạng trong thời kỳ mới mà còn thực hiện bảo vệ và pháttriển chủ nghĩa Mác.Niềm tin của quần chúng nhân dân đã được Đảng và nhà nước xác định làcủa cải/tài sản quý giá; cùng với các yếu tố vật chất, chính trị, yếu tố niềm tin có vaitrò to lớn đang tạo ra động lực mạnh mẽ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội nước ta hiện nay, đối với sự thành công của sự nghiệp đổi mới. Đảng taluôn quan tâm xây dựng, củng cố niềm tin khoa học cho quần chúng nhân dân,nhất là thế hệ trẻ, tạo ra môi trường phát triển đúng mực và coi đó là nhiệm vụvà trách nhiệm chính trị trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Trên cơ sở đánh giá



Các câu hỏi về niềm tin là gì trong triết học


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê niềm tin là gì trong triết học hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết niềm tin là gì trong triết học ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết niềm tin là gì trong triết học Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết niềm tin là gì trong triết học rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về niềm tin là gì trong triết học


Các hình ảnh về niềm tin là gì trong triết học đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu thông tin về niềm tin là gì trong triết học tại WikiPedia

Bạn có thể xem thêm thông tin về niềm tin là gì trong triết học từ web Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

Related Posts

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng. 1

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng.

ContentsĐánh giá về VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu textCác câu hỏi về niềm tin là gì trong triết họcCác…
Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống 2

Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu textCác câu hỏi về niềm tin là gì trong triết họcCác…
Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống 3

Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu textCác câu hỏi về niềm tin là gì trong triết họcCác…
CH3Cl - metyl clorua - Chất hoá học 4

CH3Cl – metyl clorua – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu textCác câu hỏi về niềm tin là gì trong triết họcCác…
I2 - Iot - Chất hoá học 5

I2 – Iot – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu textCác câu hỏi về niềm tin là gì trong triết họcCác…
7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt 6

7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt

ContentsĐánh giá về VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG PEIRCE – Tài liệu textCác câu hỏi về niềm tin là gì trong triết họcCác…