Khu vực thể chế – khái niệm “mới” với Việt Nam?

Bài viết Khu vực thể chế – khái niệm “mới” với Việt Nam? thuộc chủ đề về Giải Đáp Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer tìm hiểu Khu vực thể chế – khái niệm “mới” với Việt Nam? trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung về : “Khu vực thể chế – khái niệm “mới” với Việt Nam?”

Đánh giá về Khu vực thể chế – khái niệm “mới” với Việt Nam?


Xem nhanh
Thời sự quốc tế 11/9 | Nga nêu lý do rút quân khỏi các tuyến hậu cần chính
ÔNG PUTIN PHÁT BIỂU KỶ NIỆM 875 NĂM THÀNH LẬP THỦ ĐÔ MOSKVA
NGA THỪA NHẬN RÚT QUÂN KHỎI CÁC TUYẾN HẬU CẦN CHÍNH CHO CHIẾN DỊCH DONBASS
NGOẠI TRƯỞNG UKRAINE: “CHÚNG TÔI ĐÃ CHO THẤY, CHÚNG TÔI CÓ THỂ ĐÁNH BẠI QUÂN ĐỘI NGA”
ĐỨC TUYÊN BỐ LUÔN ỦNG HỘ UKRAINE TRONG BẤT KỲ HOÀN CẢNH NÀO
TÂY BAN NHA SẼ HUẤN LUYỆN QUÂN ĐỘI UKRAINE
UKRAINE - PHÁP THẢO LUẬN VỀ VẤN ĐỀ AN TOÀN HẠT NHÂN TẠI NHÀ MÁY ZAPORIZHZHIA
UKRAINE CÂN NHẮC KHẨN CẤP XUẤT KHẨU THAN NHIỆT SANG BA LAN
UKRAINE ĐÀM PHÁN VAY HOA KỲ 1,5 TỶ USD ĐỂ MUA KHÍ ĐỐT
“TÀU KHÔNG NGƯỜI LÁI” LÀ YẾU TỐ TIẾP THEO TRONG CẠNH TRANH QUÂN SỰ MỸ - TRUNG?
MÁY BAY ĐỔ BỘ CỠ LỚN AG600 CỦA TRUNG QUỐC HOÀN TẤT BAY THỬ NGHIỆM
ANH - PHÁP - ĐỨC HOÀI NGHI VỀ TRIỂN VỌNG HẠT NHÂN CỦA IRAN
IRAN: ANH - PHÁP - ĐỨC PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM NẾU THỎA THUẬN HẠT NHÂN ĐỔ VỠ
--------------------
Nội dung khai thác độc quyền thuộc kênh truyền hình ANTG, chia sẻ các nội dung tin tức, bản tin thế giới cập nhật 24h, được phát sóng trên kênh truyền hình ANTG…
-------------------
Công ty Cổ phần Truyền thông và Ứng dụng công nghệ thông tin FBNC (FBNC Vietnam)
- Đăng ký kênh để theo dõi: http://popsww.com/FBNC
Kênh truyền thông FBNC:
- Fanpage: https://www.facebook.com/kinhtetaichinhtvng
- Zalo: https://zalo.me/fbncvn
- Email: [email protected]
---------------
FBNC
ĐỒNG TIỀN THÔNG MINH - CUỘC SỐNG THÔNG MINH
#tintucfbnc #bantintrua #tintrua

2021-12-17T10:21:53+07:00 2021-12-17T10:21:53+07:00 https://binhphuoc.gov.vn/vi/ctk/tin-tuc/khu-vuc-the-che-khai-niem-moi-voi-viet-nam-402.html https://binhphuoc.gov.vn/uploads/binhphuoc/ctk/2021_12/khu-vuc-the-che-khai-niem-moi-voi-viet-nam-1.jpg

Bình Phước : Cổng thông tin điện tử https://binhphuoc.gov.vn/uploads/binhphuoc/quochuy_1.png

Phân loại theo ngành kinh tế và theo khu vực thể chế là hai phân loại phổ biến và quan trọng nhất mà phần lớn các quốc gia trên thế giới dùng để phản ánh các hoạt động kinh tế tương đương để phân tích, dự báo tình hình kinh tế – xã hội. Ở Việt Nam, phân loại theo ngành kinh tế đã khẳng định được vị trí khi được sử dụng ngay từ những ngày đầu thành lập ngành thống kê. mặc khác, hiện phân loại theo khu vực thể chế chưa được thực sự quan tâm, chú trọng. Phân chia nền kinh tế theo khu vực thể chế để thu thập số liệu tài khoản quốc gia, tài chính, tiền tệ từ lâu đã được các nước thành viên của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thực hiện. Năm 1995, Cơ quan thống kê Châu Âu (Eurostat) đã ban hành Hệ thống Tài khoản quốc gia Châu Âu, viết tắt là ESA 1995, đưa ra khung lý luận và phân loại nghiên cứu theo khu vực thể chế cho các nước thành viên Châu Âu. Đến nay, hầu hết các nước thành viên Ủy ban Châu Âu đều áp dụng bảng phân loại khu vực thể chế theo hướng dẫn tại ESA 2010. mặt khác, các nước thuộc OECD cũng thu thập số liệu theo khu vực thể chế. Nga, Úc, NewZealand, Nam Phi cũng xây dựng bảng phân loại khu vực thể chế của riêng quốc gia mình. Ở Châu Á, một số nước thu thập số liệu theo khu vực thể chế và cung cấp trên website chính thức của các cơ quan quản lý như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, My-an-ma… Vậy khu vực thể chế là gì? Phân loại theo khu vực thể chế có ý nghĩa như thế nào trong vận hành nghiên cứu tương đương trong nền kinh tế của Việt Nam? Khu vực thể chế là khái niệm được thống kê quốc tế sử dụng để phân chia nền kinh tế thành các khu vực có cùng chức năng, mục đích vận hành sản xuất buôn bán, cùng đặc điểm cấu trúc, vai trò kinh tế và phương thức vận hành nhằm theo dõi, tính toán, biên soạn, phân tích các số liệu, chỉ tiêu kinh tế, tài chính và tiền tệ, từ đó Chính phủ hay các bộ phận quản lý, hoạch định chính sách có các quyết sách, giải pháp thích hợp đối với từng khu vực thể chế cũng như toàn nền kinh tế. Khái niệm “thể chế” ở đây là thể chế áp dụng trong lĩnh vực nghiên cứu, không phải thể chế chính trị. Tổng cục thống kê đã sử dụng khái niệm “khu vực thể chế” từ khi Việt Nam chính thức áp dụng Hệ thống tài khoản quốc gia năm 1993 theo quyết liệt số 183/TTg ngày 25/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2002, Tổng cục Thống kê đã thử nghiệm lập tài khoản hiện hành theo khu vực thể chế cho một số năm dưới sự hỗ trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). mặc khác, chất lượng những tài khoản đã lập còn có những hạn chế do thường xuyên nguyên nhân, nhưng có một tác nhân quan trọng là do Việt Nam chưa có văn bản pháp quy quy định về khu vực thể chế. Phân loại thống kê theo khu vực thể chế là bước khởi đầu cho việc hình thành, xây dựng các khung thống kê theo khu vực thể chế. Trong giai đoạn đầu, phân loại thống kê theo khu vực thể chế hướng tới việc hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước nhận diện đúng các đối tượng kinh tế cụ thể để xây dựng các chính sách, quy chế, quy định phù hợp đảm bảo tính khả thi, hiệu quả, đúng đối tượng cần điều chỉnh, đảm bảo phát triển bền vững. Ở Việt Nam, thực tiễn xây dựng, ban hành và thực thi các quyết định, chính sách của Nhà nước những năm qua đã bộc lộ khá thường xuyên bất cập do chưa phù hợp, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các quy định áp dụng cho mỗi đối tượng chi tiết… một phần nguyên nhân là do thiếu cái nhìn trực diện, đầy đủ, khách quan về đối tượng được chính sách hướng tới. Do vậy, thiết lập hệ thống nghiên cứu theo khu vực thể chế, đặc biệt biên soạn hệ thống tài khoản quốc gia, nghiên cứu tài chính, tiền tệ theo khu vực thể chế ở Việt Nam Hiện tại là rất cần thiết cho công tác quản lý, điều hành, hoạch định chính sách kinh tế – xã hội. Để tuân thủ các bắt buộc quốc tế về thống kê tài khoản quốc gia, tài chính và tiền tệ của IMF hay Ngân hàng thế giới (WB), Tổng cục nghiên cứu, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải áp dụng các phân tổ khu vực thể chế trong việc thu thập và tổng hợp số liệu. Ví dụ việc cung cấp số liệu theo Hệ thống phổ biến số liệu chung (GDDS) và hướng tới Tiêu chuẩn thường nhật số liệu riêng (SDDS) hay Ngân hàng Nhà nước phải báo cáo số liệu tiền tệ theo Mẫu báo cáo số liệu tiền tệ tiêu chuẩn (SRFs) theo quy định của IMF… Để đảm bảo tính nhất quán trong vận hành thống kê, đặc biệt nghiên cứu tài khoản quốc gia, tài chính, tiền tệ, cùng lúc ấy tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế của định chế tài chính mà Việt Nam là thành viên, tương đương đảm bảo bắt buộc so sánh quốc tế, phân loại khu vực thể chế cần được áp dụng ở tất cả các bộ phận sản xuất và dùng số liệu về kinh tế vĩ mô, tài chính và tiền tệ, không chỉ riêng Tổng cục nghiên cứu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hay Bộ Tài chính. Vì vậy, việc ban hành văn bản pháp quy quy định về khu vực thể chế vừa tuân thủ hướng dẫn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam để thống nhất áp dụng. Ngày 23/3/2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư 02/2020/TT-BKHĐT quy định phân loại khu vực thể chế áp dụng trong hệ thống thống kê quốc gia. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các vận hành nghiên cứu theo khu vực thể chế ở Việt Nam. Nội dung Thông tư đưa ra phân loại khu vực thể chế áp dụng trong nghiên cứu Việt Nam gồm sáu khu vực:

Mọi Người Xem :   Thi SLEP miễn phí: Cánh cửa vào trường Trung học công lập Mỹ

(1) Khu vực thể chế phi tài chính: Bao gồm tất cả các công ty, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác (bao gồm cả các đơn vị không vì lợi) thường trú tham gia vào các vận hành sản xuất sản phẩm vật chất và sản phẩm phi tài chính để bán hoặc trao đổi trên thị trường.

(2) Khu vực thể chế tài chính: Bao gồm tất cả các Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức khác (bao gồm cả đơn vị không vì lợi) thường trú tham gia chủ yếu vào việc cung cấp dịch vụ tài chính, bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm và quỹ hưu trí tự nguyện cho các đơn vị thể chế khác.

(3) Khu vực thể chế Nhà nước: Bao gồm các đơn vị thể chế thường trú thuộc sự quản lý hoặc kiểm soát của các bộ phận Nhà nước, hoạt động chủ yếu nhằm thực hiện các chức năng định hướng chính sách, đường lối phát triển kinh tế – xã hội, quản lý và thực thi các chính sách của Nhà nước. Khu vực này bao gồm tất cả các đơn vị thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và đoàn thể khác, các đơn vị sự nghiệp công lập không vì lợi nhuận, phi thị trường và các quỹ an sinh xã hội. (4) Khu vực thể chế hộ gia đình: Bao gồm tất cả các hộ gia đình thường trú của Việt Nam. Hộ gia đình ở khu vực này bao gồm cả hộ gia đình sản xuất và hộ gia đình tiêu sử dụng. (5) Khu vực thể chế không vì lợi đáp ứng hộ gia đình: bao gồm tất cả các tổ chức phi lợi nhuận, phi thị trường thường trú, không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, có chức năng đáp ứng hộ gia đình, cộng đồng; đáp ứng các hội viên của đơn vị hoặc nhằm mục đích từ thiện, viện trợ, cứu trợ… (6) Khu vực thể chế không thường trú: Bao gồm tất cả các đơn vị thể chế không thường trú tham gia giao dịch với các đơn vị thường trú hoặc có các mối liên lạc khác về kinh tế với các đơn vị thường trú như các tổ chức quốc tế, đại sứ quán, lãnh sứ quán của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam… Đây là sáu khu vực thể chế cấp một được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng. Tùy vào tiềm lực, trình độ thống kê, thực tế nguồn thông tin và yêu cầu quản lý mà mỗi quốc gia có khả năng xây dựng khu vực thể chế cấp chi tiết (cấp 2, 3, 4…) phù hợp. Nhằm đảm bảo tính khả thi trong quy trình thu thập, tính toán các chỉ tiêu nghiên cứu, cũng như phù hợp với thực tiễn công tác nghiên cứu tài khoản quốc gia, tài chính, tiền tệ và đảm bảo so sánh quốc tế, bảng phân loại khu vực thể chế ở Việt Nam gồm 13 mã phân tổ cấp 2 và 16 mã cấp 3[1]. Thông tư 02/2020/TT-BKHĐT ra đời nhằm hướng tới mục đích: (i) Phân tách các thông tin, dữ liệu nghiên cứu theo loại khu vực thể chế để các ban ngành, các thống kê có khả năng tiếp cận theo loại đối tượng mục tiêu giúp cho công tác đánh giá, phân tích hiệu quả, phù hợp với chính sách, quyết liệt được ban hành; (ii) Tăng cường có khả năng so sánh của số liệu nghiên cứu tài khoản quốc gia, tài chính, tiền tệ của Việt Nam thông qua sử dụng tiêu chuẩn quốc tế về phân loại khu vực thể chế; nâng cao tính minh bạch, thúc đẩy phát triển nghiên cứu và tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa phổ biến số liệu và hoạt động giám sát; đẩy nhanh sự tham gia ngày càng sâu rộng của Việt Nam tại các định chế quốc tế mà Việt Nam là thành viên; (iii) Hỗ trợ vận hành quản lý vĩ mô bằng việc cung cấp các thông tin minh bạch và chính xác, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ. mặc khác, nội dung Thông tư 02/2020/TT-BKHĐT chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản của 6 khu vực thể chế và các khu vực thành phần, chưa đưa ra hướng dẫn chi tiết phân loại và sắp xếp từng đơn vị kinh tế vào khu vực thể chế phù hợp. Để hướng dẫn chi tiết phân loại khu vực thể chế, Tổng cục nghiên cứu đã biên soạn và chuẩn bị phát hành cuốn “Sổ tay hướng dẫn nghiên cứu theo khu vực thể chế” nhằm chi tiết hóa các vấn đề cơ bản được nêu trong Thông tư; bổ sung quá trình và hướng dẫn phân loại đơn vị kinh tế vào khu vực thể chế, đưa ra bảng phân loại tổng quát của từng khu vực thể chế để các đối tượng dùng có khả năng đơn giản thực hiện./. 

Mọi Người Xem :   Chuyên thay kính chắn gió ô tô và thay các loại kính ô tô khác - TRUNG TÂM KỸ THUẬT Ô TÔ MỸ ĐÌNH THC

Vũ Thị Hải AnhVụ Hệ thống Tài khoản quốc gia – TCTK



Các câu hỏi về khu vực nhà nước là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê khu vực nhà nước là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé