1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu text

Bài viết 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu text thuộc chủ đề về Wiki How thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer tìm hiểu 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu text”

Đánh giá về 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu text


Xem nhanh

lòng nhân ái, tính tự trọng, khiêm tốn, lễ độ,…Nhưng trong lĩnh vực đạo đức căn

bản vẫn là “xã hội nào thì đạo đức ấy”. Đạo đức của xã hội ta là đạo đức XHCN.

Điểm đặc trưng của nền đạo đức XHCN là được xây dựng trên nền tảng công bằng,

không cố người bóc lột người, trên nền tảng kết hợp thỏa đáng giữa lợi ích cá nhân

với lợi ích xã hội, lợi ích tập thể với lợi ích của nhà nước.

1.1.2 .Hành vi đạo đức

1.1.2.1 Khái niệm

Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được đẩy nhanh bởi một động cơ có

ý nghĩa về mặt đạo đức. Hành vi đạo đức được biểu hiện trong cách đối nhân xử

thế, trong lối sống, trong phong cách, trong lời ăn tiếng nói… của mỗi con người.

Hệ thống chuẩn mực đạo đức, quan niệm đạo đức của một xã hội nhất định

chỉ có thể tồn tại dưới cách thức những hành vi đạo đức sống động của các cá nhân

cụ thể. Song hành vi đạo đức của cá nhân sống trong một nền văn hóa nhất định nào

đó thì vẫn thường xảy ra hiện tượng có sự “pha tạp” trong hành vi đạo đức của họ.

Vì ở mỗi hoàn cảnh xã hội chi tiết luôn tồn tại thường xuyên nên đạo đức bên cạnh nên đạo

đức chính thống tương ứng với xã hội đó. Do vậy nhiệm vụ của giáo dục đạo đức

XHCN là giúp cho người được giáo dục có được hành vi đọc đức phù hợp với nền

đạo đức XHCN và kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đpej của dân

tộc, thoát khỏi những tàn dư đạo đức của các chế độ xã hội cũ đã lỗi thời.

1.1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hành vi đạo đức

Để đánh giá một con người có đạo đức hay không, người ta căn cứ vào hành

vi của người đó. giá trị đạo đức của hành vi được xem xét theo những tiêu chuẩn sau:

Tính tự giác của hành vi thể hiện ở chỗ cá nhân có hiểu biết, có thái độ, có ý

chí đạo đức, nói cách khác là có ý thức đạo đức về hành vi của mình. Những hành

vi của con người nếu như chủ thể của hành vi đó chưa ý thức về hành vi của mình,

chưa tự giác hành động, hành động đó còn có tính chất yêu cầu thì không thể coi

đó là hành vi đạo đức. Ví dụ, một người do sự cưỡng bức của những người xung

quanh mà phải miễn cưỡng nhường chỗ cho người già trên ô tô, thì không được

xem đó là hành vi đạo đức.

3

Hành vi của con người chỉ được coi là hành vi đạo đức khi được chủ thể

hành động ý thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa về hành vi của mình và chủ thể hoàn

toàn tự mình hành động dưới sự đẩy nhanh của những động cơ trong nội tâm mình.

Chẳng hạn tự nguyện, vui lòng nhường chỗ cho người khác trên ô tô, đó là hành vi

có đạo đức.

Tính có ích của hành vi là hành động của cá nhân đem lại lợi ích cho xã hội.

Tính có ích của hành vi phụ thuộc vào thế giới quan của chủ thể hành vi, nhất là

nhân sinh quan. Chủ nghĩa vị kỷ của giai cấp tư sản đặt lợi ích của giai cấp mình lên

trên hết, do đó trong xã hội tư bản người có đạo đức là người làm sao thu được

nhiều lợi nhuận nhất. Trong xã hội XHCN chúng ta, một hành vi được gọi là hành

vi đạo đức tùy thuộc ở chỗ nó có thúc đầy xã hội tiến lên theo hướng có lợi cho

công cuộc đổi mới trong việc xây dựng xã hội XHCN hay không?

Tính không vụ lợi của hành vi là hành động có mục đích vì người khác, vì xã

hội. Người có hành vi đạo đức trong tính toán của mình không bao giờ lấy lợi ích cá

nhân làm trung tâm. Các chiến sỹ ngoài mặt trận, các anh hùng… là những con

người đã thể hiện tính không vụ lợi trong hành vi của mình.

1.1.2.3 Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức

Tri thức và niềm tin đạo đức

Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của con người về những chuẩn mực đạo đức

qui định hành vi của họ trong mối quan hệ với người khác và với xã hội.

Để hành vi của mình có giá trị đạo đức trước hết con người phải có tri thức

đạo đức, phải biết đạo lý đòi hỏi ở họ điều gì họ cần phải làm gì và điều gì không

được làm. Cũng có trường hợp đạo đức không phải thể hiện ở chỗ là một hành vi

nào đó, mà thể hiện ở chỗ kìm hãm hành động đó. Con người phải hiểu tất cả những

điều nói trên trước khi hành động. Sự hiểu biết như thế chính là tri thức đạo đức.

Tri thức đạo đức có được là dựa trên cơ sở của quá trình tư duy sâu sắc và

độc lập của cá nhân khi họ tiếp xúc với các chuẩn mực đạo đức. Việc nhận thức

được kết quả, hệ lụy có thể có được của hành vi đạo đức là một điều kiện quan

trọng đối với hành vi đạo đức, vì nó là cái để khẳng định hành động đó của con

người là có tính tự giác hay chỉ là hành động mù quáng. Hiểu như vậy, chúng ta

thấy tri thức đạo đức là yếu tố quan trọng của hành vi đạo đức.

4

Cần phải phân biệt việc hiểu tri thức đạo đức khác với việc học thuộc lòng

một cách hình thức các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức. Không ít các trường hợp,

con người thuộc những khái niện đạo đức (trung thực là gì? Vì sao phải trung thực?),

những chuẩn mực đạo đức (sinh viên phải trung thực trong thi cử), nhưng họ vẫncos

những lúc không có những hành vi đạo đức tương ứng (chẳng hạn quay cóp).

Việc hiểu biết về chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức là quan trọng nhưng

chưa hoàn toàn đảm bảo để có hành vi đạo đức. Ngoài tri thức đạo đức, còn có sự

tin tưởng nào đó của cá nhân về lợi ích của các chuẩn mực đạo đức đối với xã hội.

Sự tin tưởng này chính là niềm tin đạo đức của cá nhén. Niềm tin đạo đức là sự tin

tưởng một cách sâu sắc và vững chắc của con người vào tính chính nghĩa và tính

chân lý của các chuẩn mực đạo đức và sự thừa nhận tính tất yếu phải tôn trọng triệt

để các chuẩn mực ấy.

Niềm tin đạo đức là một trong những yếu tố quyết liệt hành vi đạo đức của

con người, là cơ sở để làm bộc lộ những phẩm chất ý chí của đạo đức như lòng

Mọi Người Xem :   Dây Thìa Canh Trồng Ở Đâu - Vào đây xem sẽ biết rõ

dũng cảm cứu người bị nạn, tính kiên quyết đấu tranh chống thói hư tật xấu, tính

kiên trì khắc phục nhược điểm của bản thân…

Việc hình thành niềm tin đạo đức phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trang bị

những khái niệm về đạo đức, thể nghiệm những hiểu biết trong đời sống và trong

sinh hoạt, tổ chức giáo dục gia đình, dư luận tập thể… là những yếu tố quan trọng.

Động cơ và tình cảm

Để có được hành vi đạo đức không chỉ có tri thức và niềm tin đạo đức mà

cần có động cơ đạo đức.

Động cơ đạo đức là nhu cầu đạo đức được con người ý thức đầy đủ về đối

tượng để thỏa mãn nhu cầu đạo đức đó. Động cơ đạo đức là động cơ bên trong, đã

được con người ý thức và nó trở thành động cơ chính làm cơ sở cho hành động của

con người trong các mối quan hệ xã hội, biến hành động của con người thành hành

vi đạo đức.

Hành vi đạo đức là loại hành động luôn gắn với động cơ đạo đức, động cơ

như thế nào thì hành động như thế ấy. Ví dụ như, anh công an nghe thấy tiếng kêu

thất thanh “cướp” đã nhénh chóng lao về phía có tiếng kêu, không sợ tên cướp có

vũ khí để bắt tên cướp đó. nguyên nhân của hành động dũng cảm đó là tinh thần

5

trách nhiệm, đó là động cơ đẩy nhanh cho hành vi đạo đức. nguyên nhân như thế

cũng chính là mục đích của hành động.

Động cơ đạo đức vừa bao hàm ý nghĩa về mặt mục đích hành động vừa bao

hàm ý nghĩa tác nhân của hành động.

Động cơ với ý nghĩa là tác nhân hành động sẽ trở thành động lực lâm lý,

có công dụng phát động mọi sức mạnh tinh thần và vật chất của con người(như ví dụ

trên, ta thấy anh công an quên nguy hiểm), thúc đẩy con người hành động (liều

mình, tay không bắt kẻ cướp có vũ khí) theo tri thức và niềm tin của bản than đối

với các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức (tinh thần trách nhiệm). Do vậy, muốn có

hành vi đạo đức tất yếu phải có động cơ đạo đức.

Động cơ đạo đức với ý nghĩa là mục đích của hành vi đạo đức sẽ qui định

chiều hướng tâm lý của hành động, qui định xu hướng tâm lý của hành động, qui

định thái độ cá nhân đối với hành động của mình. giá trị đạo đức của hành vi được

thể hiện ở mục đích của nó. tuy nhiên, trong thực tế có thường xuyên khi động cơ của hành

động có khả năng mâu thuẫn với bản than hành động. Chẳng hạn việc học sinh học tốt có

thể chỉ là kết quả của những ham thích vị thế xã hội; việc sinh viên làm một điều tốt, có lợi

cho tập thể lại do tính hiếu danh, kiêu ngọa hoặc do một sự cầu lợi riêng nào đó.

do đó, giáo dục đạo đức không chỉ là rèn luyện những hành vi đạo đức mà

điều quan trọng hơn cả là xây dựng những động cơ đạo đức vững bền. Hệ thống

những kích thích liên thục thúc đẩy hành vi đạo đức của con người là nhiệm vụ cơ

bản của công tác giáo dục đạo đức.

Cùng với nhu cầu đạo đức với tư cách là nguồn phát sinh động cơ đạo đức

thì thái độ tích cực của cá nhân trọng mối quan hệ giữa mình với người khác và với

xã hội cũng là một trong những yế tố tham gia vào việc tạo ra động cơ đạo đức.

Thái độ đánh giá đó được gọi là tình cảm đạo đức.

Tình cảm đạo đức là thái độ rung cảm của cá nhân đối với hành vi của ngươi

khác và hành vi của chính mình trong quá trình quan hệ giữa cá nhân với người

khác và với xã hội.

Tình cảm đạo đức sẽ khơi dậy những mong muốn đạo đức, đẩy nhanh con người

hành động một cách có đạo đức trong mối quan hệ giữa nó với người khác, với tập

thể, với xã hội. Xuất phát từ vai trò của tình cảm đạo đức mà nhà thơ, nhà cách

6

mạng dân chủ người Nga Nicolai Đôbrôliubốp đã nói rằng: “Niềm tin và tri thức chỉ

coi là có thật khi nó đã đi vào trong con người, đã hòa lẫn với tình cảm và ý chí của

con người”. Với ý nghĩa như vậy, tình cảm đạo đức được xem như là một trong

những loại động cơ thúc đẩy và điều chỉnh hành vi đạo đức của cá nhén.

Thường người ta chia tình cảm đạo đức tích cực và tình cảm đạo đức tiêu

cực. Chẳng hạn, tình đồng đội là tình cảm đạo đức tích cực, lòng ghen tỵ là tình

cảm đạo đức tiêu cực.

Thiện chí và tập tính đạo đức

Con người có tri thức đạo đức, tình cảm đọa đức chưa thể có hành vi đạo

đức thật sự mà còn phải có khả năng biến ý thức đạo đức trở thành hành vi đạo đức.

Như trên đã trình bày, giá trị đạo đức không phải ở tri thức đạo đức mà ở chỗ lựa

chọn động cơ đạo đức, ở ý định của hành vi đạo đức, tức là ở tính xác định của ý

chí. Hành vi đạo đức bao giờ cũng đứng trước một tình huống giữa một bên là điều

muốn làm và bên kia là điều phải làm. Chẳng hạn khi làm bài thi có sinh viên quên

mất kiến thức đã học, lúc này ở sinh viên đó sẽ nẩy ra ý định dở tài liệu ra để xem

(muốn làm), nhưng cũng ở thời điểm đó hình như nội qui học tập đang nhắc nhở

trong họ(phải làm). Như vậy, trong nội tâm sinh viên này diễn ra cuộc đấu tranh

động cơ, họ đang đứng trước câu hỏi: “Nên hành động theo hướng nào?”. Để giải

quyết tình huống đó, trong mối tương quan giữa “cái muốn làm” và “cái phải làm”

con người phải có ý chí đạo đức.

Ta có khả năng xem ý chí con người hướng vào việc tạo ra tổng giá trị đạo đức là ý chí

đạo đức, hay còn gọi là thiện chí.

Để ý thức đạo đức biến thành hành vi đạo đức có thiện chí vẫn chưa đủ. Một

hành vi đạo đức chỉ có khả năng xảy ra thực sự khi có một sức mạnh tinh thần, sức mạnh

của thiện chí mà người ta thường gọi là nghị lực. Nghị lực là năng lực phục tùng ý

thức đạo đức của con người. Không có nghị lực con người không vượt qua giới hạn

của động vật, hành động của con người sẽ bị những mong muốn của bản than chế ước

một cách tuyệt đối. Nghị lực cho phép con người buộc những mong muốn, nguyện

vọng, ham muốn của mình phục tùng ý thức đạo đức. Con người có thể có thiện chí

mà không có nghị lực để thể hiện thiện chí đó. Trong trường hợp này người ta gọi

anh ta là người nhu nhược.

7

Như vậy, ở đây ta thấy ý chí con người vừa có tính chất xác định về chất

(thiện chí), vừa có tính chất xác định về lượng (nghị lực). Có thiện chí không hẳn là

có nghị lực.

Ngược lại, nghị lực không phải bao giờ cũng là dấu hiệu của tính xác định

đạo đức của cá nhân.

Do vậy, trong giáo dục đạo đức, cần hình thành cho con người những thiện

chí và làm cho họ có nghị lực biến thiện chí đó thành hành vi đạo đức thực sự.

Mọi Người Xem :   Nước chanh trong tiếng Anh đọc là gì

Trong quan hệ hàng ngày với người khác, với xã hội, những qui cách ứng

xử đòi hỏi con người phải có những hành vi sẵn sàng. Nghĩa là hành vi đạo đức

không chỉ dừng lại ở mức độ thực hiện một thiện chí nào đó nhờ sự thức đầy của

nghị lực mà trở thành hành động tự động hóa, trở thành thói quen đạo đức.

tập tính đạo đức là những hành vi đạo đức ổn định của con người, nó trở

thành nhu cầu đạo đức của người đó và nếu mong muốn này được thỏa mãn con người

cảm thấy dễ chịu, nếu nhu cầu không được thỏa mãn con người cảm thấy khó chịu.

Trong thực tế giáo dục đạo đức, người ta thường thấy có sự không ăn khớp

giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức. nguyên nhân của sự không ăn khớp đó

không hoàn toàn do ý thức đạo đức, mà một phần là do con người thiếu tập tính

đạo đức. Dựa trên kinh nghiệm giáo dục thanh thiếu niên của mình mà nhà giáo dục

nổi tiếng người Nga – A.X. Macarencô đã nhấn mạnh: “Dù anh có xây dựng được

bao nhiêu những quan niệm đúng đắn về điều phải làm, tôi có quyền nói với anh

rằng, anh chẳng giáo dục gì hết nếu anh không giáo dục tập tính cho các em”.

1.1.2.4 Mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý trong cáu trúc

của hành vi đạo đức

Các yếu tố nằm trong cấu trúc của hành vi như trình bày ở trên có mối tương

quan với nhéu.

Tri thức đạo đức chính là tiền đề, là cơ sở để đưa ra mục đích của hành vi

đạo đức. mặc khác nếu xét tri thức một cách biệt lập thì đó không thể là yếu tố

quyết định có hay không có hành vi đạo đức. Mà tình cảm đạo đức, thiện chí mới là

yếu tố phát động mọi sức mạnh vật chất và tinh thần của con người. Thiện chí là

điều kiện đảm bảo cho con người có hành vi đạo đức, những cũng nhiều khi hành vi

đạo đức vẫn chưa được thực hiện nếu như con người chưa có sự hiểu biết về những

8

hình thức và phương pháp của hành vi đạo đức. Có thiện chí mà không có tri thức

đạo đức đầy đủ thì con người không thể tránh khỏi lúng túng, bế tắc trong cách ứng

xử. Nhất là trong xã hội các tình huống xảy ra luôn biến động, phức tạp.

Con người có tri thức và niềm tin đạo đức, có tình cảm và động cơ đạo đức,

nghĩa là có ý thức đạo đức, có thiện chí nhưng cũng chưa đủ để đảm bảo luôn luôn

có hành vi đạo đức, có khả năng nói một cách khác, giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo

đức còn có một khoảng cách. Nhiệm vụ của nhà giáo dục là phải nối liền khoảng

cách đó, làm cho ý thức đạo đức và hành vi đao đức của người được giáo dục đạt

tới sự thống nhất cao nhất. Yếu tố làm cho ý thức đạo đức được thể hiện trong hành

vi đạo đức chính là thói quen đạo đức.

Muốn có thói quen đạo đức thì phải tổ chức hoạt động của người được giáo

dục đảm bảo cho hành vi đạo đức được lặp đi lặp lại nhiều một cách có hệ

thống. một trong những yếu thố tâm lý đảm bảo cho ý thức biến thành thói quen

trong hành vi đạo đức là nghị lực cá nhân. Nghị lực của cá nhân chỉ có được khi họ

có hiểu biết sâu sắc về các chuẩn mực đọa đức, có niềm tin đạo đức bền vững, có

tình cảm đạo đức mãnh liệt và có động cơ đạo đức cao cả.

Giáo dục đạo đức, thực chất là hình thành những phẩm chất cho người được

giáo dục và tạo ra ở họ đồng bộ các yếu tố tâm lý nói trên

1.1.2.5 Nhân cách là chủ thể của hành vi đạo đức

Qua những vấn đề trình bày ở trên về hành vi đạo đức chúng ta thấy một

hành vi đạo đức chi tiết, xét đến cùng bao giờ cũng do nhưng con người cụ thể, do

những nhân cách trọn vẹn thực hiện. Bởi hành vi đạo đức được thực hiện bao gồm

tri thức đạo đức, niềm tin đạo đức, tình cảm đạo đức, thiện chí, nghị lực, thói quen.

Toàn bộ hệ thống phẩm chất, năng lực cùng với sự tự ý thức về bản thân của con

người đều tham gia vào hành vi đạo đức. do đó, ta có khả năng kết luận rằng, chủ thể của

hành vi đạo đức là toàn bộ nhân cách của một con người cụ thể. Giáo dục đạo đức

phải thông qua tổ chức hành vi đạo đức để giáo dục toàn bộ nhân cách con người.

mặc khác, nói nhân cách trọn vẹn thực hiện hành vi đạo đức không có nghĩa

là mọi đặc điểm nhân cách của cá nhân đều có tác dụng ngang nhéu đối với hành vi

đạo đức. Trong nhân cách có các yếu tố sau chi phối rõ nét nhất đối với hành vi đạo

đức:

9

Tính sẵn sàng của hành vi đạo đức

Con người khi đã chuyển hóa tri thức xã hội – lịch sử biến thành tri thức của

bẩn thân và chỉ những tri thức nào được cá nhân kiểm nghiệm trong thực tiễn mới

tạo nên niềm tin đạo đức của họ. Niềm tin đạo đức là yếu tố chiếm ưu thế trong hệ

thống thứ bậc động cơ của nhân cách và biểu hiện thành chiều hướng đạo đức nhân

cách. Niềm tin đạo đức sẽ hoạch định cho mọi hành động có tính đạo đức. Như

vậy, chiều hướng đạo đức của nhân cách là cơ sở đầu tiên, cơ bản để có tính sẵn sang

hành động có đạo đức.

tuy nhiên chiều hướng đạo đức của nhân cách cũng chưa đủ để tạo ra tính sẵn

sang hành động có đọa đức, vì xu hướng cũng mới chỉ ở dạng vạch xu hướng

cho hành động, do vậy còn có các thành phần khác nữa mới đủ tạo nên tính sẵn

sàng của hành động đạo đức như phẩm chất ý chí và phương thức hành vi.

Phẩm chất ý chí như tính mục địch, tính quyết đoán, tính kiên trì… là yếu tố

cần thiết để chuyển những thuộc tính của xu hướng thành hành động.

Mọi hành vi đạo đức đều đặn là hành vi tự giác và phần thường xuyên hành vi đạo đức là

hành động có ý chí, có đấu tranh động cơ.

Trong xã hội, các chuẩn mực đạo đức còn được qui định cả đến cách thức

thể hiện, cả thao tác (ví dụ, như cách xưng hô, lời chảo hỏi, tư thế đứng, ngồi,…).

Do vậy, khi thực hiện hành vi đạo đức chủ thể hành vi phải thực hiện đúng qui cách

do xã hội qui định, cách mà người ta thường gọi là “hành vi văn minh”

Cuối cùng, phải làm cho phương thức hành vi trở thành kỹ xảo, thói quen

hành vi thì mới làm cho tính sẵn sáng của hành động có đạo đức trở nên đầy đủ và

trọn vẹn.

Tóm lại, tính sẵn sang của hành động đạo đức liên quan đến các phẩm chất

của nhân cách (mặt đức như: thái độ, tình cảm, phẩm chất ý chí…) và cả năng lực

(mặt tài như: sự hiểu biết về chuẩn mực, qui tắc đạo đức, kỹ năng, kỹ xảo, tập tính

đạo đức).

Ý thức bản ngã

Ý thức bản ngã là ý thức về bản thân mình. Đây cũng là một thành phần

Mọi Người Xem :   Tự thụ phấn là:

tham gia qui định hành vi đạo đức. Trên bình diện đạo đức ý thức bản ngã xuất hiện

10

dưới cách thức như là nhu cầu tự khẳng định, lương tâm, lòng tự tọng, danh dự cá

nhân.

nhu cầu tự khẳng định

nhu cầu tự khẳng định là sự rất cần thiết khẳng định mình là một thành viên

của xã hội, thành viên của một tập thể… mong muốn muốn được mọi người thừa nhận

và được như vậy thì bản thân mình mới thấy yên lòng. Chẳng hạn, muốn được mọi

người chú , tôn trọng, khen ngợi… Đây là một nhu cầu cơ bản của con người (có

lúc nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu trở thành nhân cách). cũng như mọi nhu

cầu khác, mong muốn tự khẳng định nảy sinh và phát triển mạnh mẽ trong vận hành và

giao lưu, đồng thời cũng biến động trong quy trình sống cùng với sự biến động vị trí

của mình trong các quan hệ xã hội của cá nhân.

Một biểu hiện rõ rệt của mong muốn tự khẳng định là sự tự đánh giá. Tự đánh

giá những hoạt động, những phẩm chất, năng lực của bản than. Việc tự đánh giá

cũng như sự tự đánh giá của xã hội, tập thể, gia đình, bạn bè… giữ vai trò quan

trọng trong chiều hướng đạo đức của từng người. Nếu sự đánh giá là thích hợp (khách

quan và dựa trên những chuẩn mực đạo đức thích hợp) thì sẽ thuận lợi cho sự phát

triển tâm lý, đạo đức. Ngược lại, sự tự đánh giá không thích hợp, có thể diễn ra theo

hai hướng: thấp hơn hoặc cao hơn khả năng thức của bản thân. Nếu thấp hơn (nhất

là quá thấp) thì chủ thể rơi vào tình trạng bi quan, hoài nghi… từ đó có khả năng dẫn họ

tới chỗ tự ti. Nếu cao hơn sẽ làm cho chủ thể rơi vào bệnh kiêu căng, tự cao, tự

đại… từ đó dễ kéo theo coi thường người khác và tất yếu sẽ bị cô lập, cách biệt.

Lương tâm là sự kết tinh của mong muốn đạo đức và ý thức đạo đức đã trở thành

bản tính của một con người

Lương tâm cũng là hình thức biểu hiện của ý thức bản ngã. Khi được hình

thành lương tâm trở thành một có khả năng tự đánh giá về đạo đức của mỗi người. Sự

đánh giá của lương tâm có đặc điểm là dựa trên những chuẩn mực ít nhiều lý tưởng

hóa và biểu hiện thành tình cảm đạo đức. Vì vậy, khi hành vi đạo đức được đánh giá

là “đạt yêu cầu” thì lương tâm thanh thản. Nhưng hành vi đạo đức bị đánh giá là

không đạt bắt buộc, là sai trái… thì lương tâm bị cắn rứt, dày vò, đau khổ, … Sự cắn

rứt của lương tâm tuy âm ỉ nhưng dai dẳng, khó chịu.

11

Giáo dục đạo đức cuối cùng phải đạt tới sự tự đánh giá, tự kiểm tra, tự giáo

dục về đạo đức của chủ thể.

Cùng với mong muốn tự khẳng định và lương tâm thì lòng tự trọng (tự coi trọng

mình, tự gìn giữ tư cách, phẩm chất của bản thân), danh dự cá nhân (tiếng tăm tốt

về bản thân) cũng là những biểu hiện của ý thức bản ngã, cũng là những chỉ số của

giáo dục đạo đức, là dấu hiệu của quy trình giáo dục đạo đức đã chuyển thành kết

quả của tự giáo dục về đạo đức.

1.1.3 Chức năng của đạo đức

1.1.3.1 Chức năng điều chỉnh hành vi

Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi làm

cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và

cộng đồng.

Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó có

chính trị, pháp quyền và đạo đức…

Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia bằng

các biện pháp đặc trưng như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực…

Pháp quyền và đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các cá nhân

với cộng đồng bằng các biện pháp đặc trưng là pháp luật và dư luận xã hội, lương

tâm. Sự điều chỉnh này, có thể thuận chiều, có khả năng ngược chiều.

Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền khác nhéu ở mức độ đòi hỏi

và phương thức điều chỉnh.

Pháp quyền thể hiện ra ở pháp luật, là ý chí của giai cấp thống trị buộc mọi

người phải tuân theo. Những chuẩn mực của pháp luật được thực hiện bằng ngăn

cấm và cưỡng bức (quyền lực công cộng cùng với đội vũ trang đặc biệt, quân đội,

cảnh sát, toà án, nhà tù…). Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của mỗi cá nhân sống

trong cộng đồng.

Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa đối với các hành vi cá nhân. Phương

thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Những chuẩn mực đạo đức

bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến khích.

12

Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm

đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng để phân

biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành

cái không thể thay thế của đạo đức.

Mục đích điều chỉnh: bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo nên

quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng và

cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng).

Đối tượng điều chỉnh: Hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ

cá nhân với cộng đồng (gián tiếp).

cách thức điều chỉnh được biểu hiện: Lựa chọn giá trị đạo đức; xác định

chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi

bưỏi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình

cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.

Chức năng điều chỉnh hành vi được thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu.

Xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán

mạnh mẽ cái ác.

Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực

đạo đức xã hội.

1.1.3.2 Chức năng giáo dục

Con người vươn lên “chân – thiện – mỹ”. Con người là sản phẩm của lịch sử,

đồng thời là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn

cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy.

Con người phát sinh bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống ấy tác động

đến con người và con người ảnh hưởng lại hệ thống. Hệ thống đạo đức do con người

tạo ra, nhưng sau khi ra đời hệ thống đạo đức tồn tại như là cái khách quan hoá tác

động, chi phối con người.

Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại thường xuyên hệ thống đạo đức mà các cá

nhân chịu sự tác động. Ở đây, môi trường đạo đức: tác động đến đạo đức cá nhân

bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nhận thức đạo đức để chuyển hoá

đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân. Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá

nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong

13



Các câu hỏi về hành vi đạo đức là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê hành vi đạo đức là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết hành vi đạo đức là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết hành vi đạo đức là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết hành vi đạo đức là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về hành vi đạo đức là gì


Các hình ảnh về hành vi đạo đức là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu tin tức về hành vi đạo đức là gì tại WikiPedia

Bạn có thể tìm thêm thông tin về hành vi đạo đức là gì từ web Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

Related Posts

Hành vi pháp lý đơn phương là gì? Sự khác biệt với hợp đồng? 1

Hành vi pháp lý đơn phương là gì? Sự khác biệt với hợp đồng?

ContentsĐánh giá về 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu textCác câu hỏi về hành vi đạo đức là gìCác Hình…
Nêu những hành vi sức khỏe trung gianNhững hành vi sức khỏe trung gian (là những hành vi ko có lợi cũng ko có hại cho sức khoẻ hoặc chưa xác định rõ) 2

Nêu những hành vi sức khỏe trung gianNhững hành vi sức khỏe trung gian (là những hành vi ko có lợi cũng ko có hại cho sức khoẻ hoặc chưa xác định rõ)

ContentsĐánh giá về 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu textCác câu hỏi về hành vi đạo đức là gìCác Hình…
Liệu Pháp Nhận Thức Hành Vi (CBT) Là Gì? 3

Liệu Pháp Nhận Thức Hành Vi (CBT) Là Gì?

ContentsĐánh giá về 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu textCác câu hỏi về hành vi đạo đức là gìCác Hình…
Nhiễm trùng đường tiết niệu ở nam giới do Enterobacter cloacae 4

Nhiễm trùng đường tiết niệu ở nam giới do Enterobacter cloacae

ContentsĐánh giá về 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu textCác câu hỏi về hành vi đạo đức là gìCác Hình…
Thế Là Nào Mệnh Vcd Đắc Tam Không Là Gì, Tìm Hiểu Về Mệnh Vô Chính Diệu Đắc Tam Không - Thánh chiến 3D 5

Thế Là Nào Mệnh Vcd Đắc Tam Không Là Gì, Tìm Hiểu Về Mệnh Vô Chính Diệu Đắc Tam Không – Thánh chiến 3D

ContentsĐánh giá về 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu textCác câu hỏi về hành vi đạo đức là gìCác Hình…
Vi khuẩn lao, vi khuẩn phong - Bệnh viện Quân Y 103 6

Vi khuẩn lao, vi khuẩn phong – Bệnh viện Quân Y 103

ContentsĐánh giá về 1 Khái niệm đạo đức – hành vi đạo đức – Tài liệu textCác câu hỏi về hành vi đạo đức là gìCác Hình…