Ý nghĩa bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ” trong văn hoá Việt Nam

Bài viết Ý nghĩa bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ” trong văn hoá Việt Nam thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer.Com.Vn tìm hiểu Ý nghĩa bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ” trong văn hoá Việt Nam trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem chủ đề về : “Ý nghĩa bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ” trong văn hoá Việt Nam”

Đánh giá về Ý nghĩa bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ” trong văn hoá Việt Nam


Xem nhanh
Ý nghĩa 4 chữ CỬU HUYỀN THẤT TỔ - Lê Minh Châu (Rất sâu sắc)
--------------------------***********------------------------------
Danh sách các bài thuyết giảng đáng nghe được giảng trước 1975
https://bit.ly/3fh80rG
Danh sách các đề giải đáp nghi vấn của ông Lê Văn Phú (2 Tho)
https://bit.ly/2VO8JJm
Danh sách các câu giải đáp nghi vấn của giáo lý viên Phạm Hùng Nam
https://bit.ly/2Z46DXX
Danh sách các bài thuyết trình của giảng viên Nguyễn Văn Tiển (Mù Tiển)
https://bit.ly/3e3k6U3
Danh sách các bài thuyết trình của giảng viên Lê Minh Châu (Út Châu)
https://bit.ly/2NZZPnZ
Danh sách các bài thuyết trình của giảng viên Bùi Văn Ưởng(Thiện Tâm hay 7 Ưởng)
https://bit.ly/2BA1yOg
Danh sách các bài chú giải giáo lý Phât Giáo Hào Hảo
https://bit.ly/3iAWtWi
Các bài thi văn do cô Trần Kim Lợi ngâm
https://bit.ly/2O2YpZU

Kiến thức
Chủ nhật, 08/09/2019, 09:13 AM

Thích Giác Hoàng

Trên bàn thờ gia tiên của mỗi gia đình Việt thường đặt một bài vị có ghi bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ. Vậy bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ này mang ý nghĩa gì?

Hỏi: Kính chào quý Thầy và quý đạo hữu, tôi thường nghe đến bốn chữ “Cửu Huyền thất Tổ”, vậy bốn chữ này mang ý nghĩa gì vậy trong văn hoá Việt Nam? Kính chúc quý đạo hữu thân tâm thường lạc. Kính chào thân ái. (Ánh Quang).

Ý nghĩa của bốn chữ “Cửu Huyền thất Tổ”

Trên bàn thờ gia tiên của mỗi gia đình Việt thường đặt một bài vị có ghi bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ Trên bàn thờ gia tiên của mỗi gia đình Việt thường đặt một bài vị có ghi bốn chữ Cửu Huyền thất Tổ

Đáp: Câu hỏi của cư sĩ làm Chúng Tôi phải tra khảo lại các từ điển Phật học và Hán học, hơn thế nữa, công ty chúng tôi còn nhờ Đại đức Thích Minh Nghị hiện đang du học tại Trung Hoa tra khảo giúp nơi các bộ từ điển lớn của Trung Hoa, nhưng cũng không thấy từ nguyên của bốn chữ này. Như chúng ta biết, phần lớn các ngôn từ Hán Việt đều đặn được người Việt tiếp thu thông qua các cuộc giao lưu văn hoá, tôn giáo Hán – Việt qua nhiều thời đại. Nhưng bốn chữ này, công ty chúng tôi nghĩ là do các nhà sư Việt Nam sáng tạo, không hề chịu ảnh hưởng văn hoá của Phật giáo Trung Quốc hoặc Ấn Độ.

Bài liên quan

Không biết bốn chữ này được xuất hiện trong văn bản nào sớm nhất, nhưng theo chỗ Chúng Tôi biết, bốn chữ này có trong tác phẩm Sự Lý Dung Thông viết bằng thể thơ song thất lục bát của Thiền sư Hương Hải (1728 – 1715) được Tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã dày công biên khảo và dịch lại, cho in chung trong Toàn Tập Minh Châu Hương Hải (Nhà xuất bản TP.Hồ Chí Minh, 2000). Phía sau cuốn sách có in toàn bộ tác phẩm và ngữ lục của Thiền sư bằng chữ Hán. Tác phẩm Sự Lý Dung Thông (trang 416) cũng nằm trong phần phụ lục này, có nói đến bốn chữ này trong hai câu thơ:

Mọi Người Xem :   HÃY CẢNH GIÁC VỚI PHÁP LUÂN CÔNG

“Thích độ nhân miễn tam đồ khổ

Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương”

(Ðại ý là giáo lý đức Phật Thích Ca hoá độ chúng sinh để thoát khỏi ba đường khổ: địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, và có khả năng cứu thoát cửu huyền và thất tổ được siêu thăng).

Có lẽ vì câu trên quá cô đọng nên bản Việt ngữ của Tiến sĩ Lê Mạnh Thát (trang 392), vẫn giữ nguyên như vậy, và phần dưới có chú thích ngắn gọn về bốn chữ “cửu huyền thất tổ” như sau:

“Cửu huyền: Chín đời: Cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu, chắt, chít. Thất tổ: Bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ”

Mặc dầu trong các từ điển, Chúng Tôi không thấy có chữ “huyền” nào có nghĩa là “đời” cả, nhưng qua quy trình Việt Hoá, chữ này được hiểu như là “đời”, và có lẽ nên dịch là “thế hệ” thì chính xác hơn.

Ảnh minh họa Ảnh minh họa

Chín thế hệ trên, nếu phiên âm bằng chữ Hán thì được viết như sau: Cao – Tằng – Tổ – Khảo – Kỷ – Tử – Tôn – Tằng – Huyền. Như vậy, nếu lấy thế hệ mình làm chính thì tính ngược lên bốn đời và tính xuống bốn đời thành ra chín đời.

Một vị Hoà thượng mà người viết có duyên học hỏi đã giải thích rằng, sở dĩ gọi chữ “Huyền” ở đây vì chữ “Huyền” trong “cửu huyền” này vốn có nghĩa là “đen”, vô lượng kiếp chúng sanh luân hồi sống chết, khi thân xác này rã rời, phân ly, trả về cho tứ đại, những chất tinh tuỷ xương máu và thịt tan rã, huỷ hoại đều đặn biến thành màu đen nên gọi là “huyền”. Bởi chín thế hệ vần xoay, sống chết như vậy nên gọi là “cửu huyền”.

Mọi Người Xem :   Trà Alisan Đài Loan Cao Cấp Gói 250Gr

Thất Tổ: Là bảy ông tổ. Tổ là ông nội của đời mình; đi ngược lên sáu đời nữa gọi là thất tổ.

Bài liên quan

Như vậy, chữ “cửu huyền” bao quát hơn chữ “thất tổ”. Vì “thất tổ” chỉ cho các thế hệ đi trước, còn “cửu huyền” không chỉ chỉ cho bốn thế hệ trước mà còn nhắc đến bốn thế hệ sau nữa. Chính Vì vậy, nơi thờ phụng những vị quá vãng còn được gọi là “Nhà Thờ Cửu Huyền” (viết bằng tiếng Việt), thỉnh thoảng sử dụng bốn chữ “Cửu Huyền thất Tổ” (viết bằng chữ Hán). Quý Tăng Ni miền Nam và miền Bắc cũng sử dụng cụm từ này để chỉ cho nơi thờ ông bà, cha mẹ mình thường xuyên đời, nhưng không phổ biến rộng rãi, các vị thường dùng từ “hương linh” chỉ người đã khuất, và nơi thờ các hương linh ấy được gọi là “bàn linh”. Các tịnh xá thuộc hệ phái Khất Sĩ dùng từ “Cửu Huyền” hoặc cả “Cửu Huyền Thất Tổ” chỉ cho nơi thờ những người đã quá vãng.

“Cửu Huyền thất Tổ” trong nền văn hoá Việt Nam

Ảnh minh họa Ảnh minh họa

Theo cách nhìn tổng quát, văn hóa có hai phần đặc trưng, đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Nền văn hóa vật chất bao gồm các lĩnh vực thuộc khoa học kỹ thuật. Văn hóa tinh thần bao gồm các lĩnh vực thuộc học thuật, tư tưởng, tôn giáo và những loại hình giải trí, nghệ thuật

Cách biểu hiện lòng tôn trọng, nhớ ơn và biết ơn ông bà cha mẹ thường xuyên đời thường xuyên kiếp qua việc thờ cúng của người Việt Nam thuộc loại hình văn hoá tinh thần. Cách tôn kính, thờ cúng này không phải ở Việt Nam mới có, mà từ thuở nhà Hạ (2183-1752 trước TL), Thương/ Ân (1751-1112 trước TL), Chu (1111? – 249 trước TL) bên Trung Hoa cũng đã có nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên rồi. Các vua chúa thường đi tế Giao (cúng trời đất) ở một nơi được xem là linh thiêng, hoặc cúng tổ tiên trong Thái Miếu. Nền văn hoá Việt Nam thời cổ và trung đại cũng vậy. Các vua chúa thường đi cúng tế nơi Thái Miếu, nơi đền thờ các vị khai quốc công thần. Còn người dân dã thì thường thờ ông bà cha mẹ tại nhà và làm lễ cúng giỗ hàng năm.

Bài liên quan

Điều đáng nói ở đây, là nền văn hoá tinh thần nầy đã được duy trì, phát huy và thấm sâu vào lòng dân tộc Việt Nam dù trải bao biến thiên lịch sử. Không phải đất nước nào cũng duy trì được nền văn hoá quý báu này. Trung Hoa, một trong 3 cái nôi văn minh nhân loại thời cổ, đến khi Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 thì nền văn hoá tinh thần bị hạ bệ, nhất là giai đoạn “Cách Mạng Văn Hoá” thì tinh thần “ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ người đào giếng” hoàn toàn bị xoá sổ, mà thay vào đó là nền văn hoá của “Mao Chủ tịch”.

Mọi Người Xem :   Ký hiệu x là gì trong toán học? Ẩn số "x" trong toán học? - Blog tổng hợp tin tức định nghĩa "là gì"

Ðại đức Minh Nghị đang du học bên Trung Hoa kể cho công ty chúng tôi nghe, khắp đại lục Trung Hoa không có được một nhà có bàn thờ ông bà cha mẹ của mình. Vào nhà chỉ thấy hình của bác Mao Trạch Đông thôi! Các chùa chiền thì không thấy có nhà thờ “Cửu Huyền Thất Tổ” hoặc “Vãng Sinh Ðường”, thậm chí một số chùa chiền cũng không thấy có nhà thờ Tổ (Tổ đường). Khái niệm “thờ cúng” ông bà cha mẹ hầu như bị lãng quên và họ còn cho đó là một nghi thức “cổ lổ xỉ”. Họ cho rằng “thờ cúng” là một cách thức mê tín dị đoan, nên đã cực lực loại bỏ! Thế là cả một nền văn hoá “Ẩm thuỷ tư nguyên” (uống nước nhớ nguồn) tốt đẹp mấy ngàn năm, một truyền thống hiếu thảo “phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hiệu thiên võng cực” (Kinh Thi) đã từng làm xúc động bao con tim của bao thế hệ, nay không còn duy trì nữa. Thật buồn thay cho một nền văn hoá có bề dày nhất nhì trong lịch sử văn minh nhân loại, và cũng là một nền văn hoá được đánh giá là tôn trọng chữ hiếu bậc nhất trong lịch sử nhân loại, thế mà ngày nay lại thiếu vắng tinh thần tri ân và báo ân!

May mắn thay, văn hoá Việt Nam, dù trải bao thăng trầm lịch sử, nhưng đạo lý: “Sang đò nhớ ơn người chèo chống, nằm võng nhớ ơn người mắc dây” vẫn được khắc sâu trong tâm khảm người Việt, vẫn ấm áp trong tiếng hát hời ru con muôn thuở:

“Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ

Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha”.

Lời cuối, cầu chúc cư sĩ thân tâm thường lạc, tinh tấn trong mọi thiện sự.

Sự kiện nổi bật

Top 6 tượng gỗ phong thủy đẹp Hà Nội cho năm Nhâm Dần 2022

Tin chọn lọc



Các câu hỏi về củ quyền là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê củ quyền là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé

Related Posts