cây ăn quả – Tài liệu text

Bài viết cây ăn quả – Tài liệu text thuộc chủ đề về Wiki How thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer tìm hiểu cây ăn quả – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung : “cây ăn quả – Tài liệu text”

Đánh giá về cây ăn quả – Tài liệu text


Xem nhanh
Trồng Cây Gì 2021 ? Gợi ý 11 Loại Cây Ăn Quả Dễ Trồng Có Giá Trị Kinh Tế Cao
* Chế phẩm Nấm Tricodemar ủ phân bón hữu cơ cho cây trồng: https://shorten.asia/dSxSfzkt
Trồng cây gì để có thu nhập cao là thắc mắc của đại đa số bà con nông dân hiện nay. Nhất là sau một năm 2019 đầy khó khăn, việc chuẩn bị cây trồng có giá trị kinh tế cao, nhanh cho thu hoạch là vấn đề rất quan trọng. Để giúp bà con giải quyết vấn đề đó, sau đây Nông Lâm TV sẽ chia sẻ cho bà con 11 loại cây ăn quả hiệu quả kinh tế cao để giúp bà con nhanh chóng xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu hiệu quả.
Trước khi tìm hiểu chi tiết các loại cây trồng, bà con hãy bấm đăng ký kênh và nhấn vào chuông để nhận được thông báo khi Nông Lâm TV phát hành video mới.
Kính thưa bà con trong danh sách những loại cây ăn quả sau, mỗi loại chỉ phù hợp cho một số vùng nhất định, do đó tùy vào mỗi vùng, địa phương cũng như khí hậu khác nhau Mà bà con lựa chọn giống cây trồng sao cho phù hợp.
* Nguồn các video được sử dụng theo giấy phép CC BY:
- https://youtu.be/SGix0RUfQwY
- https://youtu.be/UhaYhfvHA3Y
- https://youtu.be/U7Kod2EK0j4
- https://youtu.be/AYqRQR9ntbQ
- https://youtu.be/Z4S872ATixg
- https://youtu.be/B7WfPw6A44s
..............................................................
Đăng ký Kênh NongLam TV để cập nhập các thông tin hữu ích về Nông Nghiệp
-------Liên hệ Quảng Cáo---------
* Facebook: https://www.facebook.com/NongLam.NET
* Email: [email protected]
#nonglamtv #tintucnongnghiep

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.82 MB, 126 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾDỰ ÁN HỢP TÁC VIỆT NAM – HÀ LAN

BÀI GIẢNGCÂY ĂN QUẢ

Người biên soạn: ThS. Trần Đăng Khoa

Huế, 08/2009

1BÀI 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY ĂN QUẢ

1. Ý NGHĨA PHÁT TRIỂN NGHỀ TRỒNG CÂY ĂN QUẢ TRONG NỀN KINHTẾ QUỐC DÂN

Nghề trồng cây ăn quả là một bộ phận của sản xuất nông nghiệp mà đối tượng của nólà những cây lâu năm có quả ăn được.Khoa học về cây ăn quả nghiên cứu các đặc tính sinh học của cây ăn quả, vị trí và vaitrò của chúng trong hệ thống sinh thái, những quy luật về mối quan hệ giữa cây ăn quả vớiđiều kiện ngoại cảnh. Từ đó đặt cơ sở lý luận cho việc phát triển nghề trồng cây ăn quả vớinhững biện pháp kỹ thuật thích hợp nhằm thâm canh tăng năng suất và phẩm chất quả. Nghềtrồng cây ăn quả có lợi về nhiều mặt như sau :

Bảng 1: tổng giá trị dinh dưỡng của trái cây trên 100g quả tươi

2- các loại quả là nguồn dinh dưỡng quý của con người. Trong quả có nhiều đường dễtiêu, axit hữu cơ, mỡ, protein, hợp chất khoáng, pectin, tanin, chất thơm, Vitamin C, B, B1,B2, B6, P, PP, Prôvitamin A và các chất khác. Là những chất dinh dưỡng không thể thiếu

được của cơ thể con người. Để con người vận hành được bình thường phải cung cấp hàngnăm khoảng 100 kg quả các loại.- những loại quả và các bộ phận khác của cây như rễ, lá, hoa, vỏ, hạt…có khả năng chữabệnh (cao huyết áp, tim mạch, suy nhược thần kinh, dạ dày, đường tiêu hóa, kiết lỵ, chốngnhiễm xạ).- Cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để ép dầu, chế biến rượu, xi rô, đồ hộp, mứt, quảsấy khô.- Cây ăn quả còn có công dụng lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái với các chứcnăng làm sạch môi trường, hạn chế tiếng ồn, làm rừng phòng hộ chống xói mòn, làm đẹp cảnhquan, là nguồn mật để nuôi ong.- tổng giá trị kinh tế do trồng cây ăn quả mang lại gấp 2-3 lần thậm chí 10 lần so với trồnglúa. Vốn đầu tư vào trồng cây ăn quả thu hồi nhanh trong một số năm sau khi cây bước vàothời kỳ buôn bán.Chính vì nhữ ng ý nghĩa to lớn nói trên, ngày nay nhiều nước đang ra sức pháttriển cây ăn quả đặc sản dựa vào lợi thế về khí hậu, đất đai, nguồn lao động và kinhnghiệm cổ truyền của mình kết hợp với việc vận dụng các thành tựu hiện đại trongkhoa học về nghề vườn để có nhiều danh mục xuất khẩu.

2. TÓM TẮT LỊCH SỬ NGHỀ TRỒNG CÂY ĂN QUẢ.- thống kê nguồn gốc những loại cây trồng trên thế giới, viện sĩ Vavilop cho rằng quêhương của nhiều loài cây ăn quả là vùng Đông Nam Á, Tiểu Á, Trung Á, Ngoại Capcaz vàven biển Địa Trung Hải.Vườn treo Babilon ở Axiri xuất hiện sớm nhất (Trước công nguyên 3000 năm), nghềtrồng cây ăn quả ở Trung Quốc có cách đây 2500 – 3000 năm, còn ở Ấn Độ đã có từ 1280 nămtrước công nguyên. Táo, lê, đào, mận, mơ, táo tàu, hạt dẻ…đã được trồng cách đây hơn 4.000năm. Cam, chanh, anh đào và một vài quả nạc khác thì có trên dưới 2.000 năm.Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều có phát triển cây ăn quả. Những nước códiện tích cây ăn quả lớn là Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ …- Nghề trồng cây ăn quả đã có ở Việt Nam cách đây 2.000 năm. Mặc dù có điều kiệnkhí hậu đất đai rất thuận lợi cho cây ăn quả phát triển, nhưng do điều kiện xã hội, kinh tế, nghề

trồng cây ăn quả Việt Nam trước đây ở vào tình trạng kém phát triển và sản lượng hàng hóa ởmức thấp.Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 Đảng và nhà nước có những chủ trương, chính sáchphát triển nông nghiệp toàn diện, trong đó chú ý phát triển nghề trồng cây ăn quả.Phần lớn vườn cây ăn quả thuộc sở hữu tư nhân (khoảng 89% diện tích), quốc doanhvà tập thể chỉ chiếm trên dưới 11%.- Phương hướng phát triển nghề trồng cây ăn quả ở nước ta đến năm 2010: nước ta cókhó khăn sinh thái rất phong phú với chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm và á nhiệt đới cùng với sự phânhóa của địa hình đã tạo nên những vùng khí hậu đặc thù có khả năng phát triển được các loài cây ănquả nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới.

3Hiện tại nước ta đã hình thành thường xuyên vùng cây ăn quả đặc sản có năng suất cao vàchất lượng tốt như: xoài cát Hòa Lộc (Tiền Giang), quýt tiều Đồng Tháp, nho Phan Rang(Ninh Thuận), nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn, bơ, sầu riêng Đắc Lắc…

Bảng 2. Diện tích và sản lượng một số trái cây

Loại trái Diện tích hiện nay (ha) Diện tích cho trái (ha) Sản lượng (tấn)Chuối 99.340 88.940 1.281.805Cam, quýt 78.649 50.175 497.326Bưởi, bòng 24.721 15.319 178.126Xoài 68.986 41.452 264.045Dứa 41.651 33.356 383.155Nhãn 126.265 88.474 569.687Vải, chôm chôm 109.538 73.455 314.767Dừa 113.533 120.245 893.500Thanh long 9.571 8.405 141.202

Nguồn: Hiệp hội trái cây Việt Nam (2003)

Phát triển nghề trồng cây ăn quả trong những năm qua đã góp phần vào chuyển đổi cơcấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ làm tăng thêm giá trị dùng ruộng đất. Tăng mức lương gópphần xóa đói Giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện hơn môi sinh. Năm 2005 tổng giá trịxuất khẩu quả đạt 234 triệu đô la. Dự kiến 2010 đạt 700 triệu đô la.Trong những năm tới ngành rau quả sẽ là một trong những ngành sản xuất hàng hóalớn và có tổng giá trị xuất khẩu cao của ngành nông nghiệp nước ta.Phấn đấu tiêu thụ về rau quả một người /năm sẽ là:

Năm 2000 Năm 2010Rau (kg) 90 – 100 100 – 110Quả (kg) 60 – 70 80 – 100

Đặc điểm nghề trồng cây ăn quả trên thế giới:- Vấn đề quan tâm hàng đầu của nghề trồng cây ăn quả thế giới là giống mới phải cónăng suất cao, sớm có quả, có phẩm chất tốt, có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu đấtđai ở địa phương và chống chịu sâu bệnh tốt.- Song song với công tác giống là việc chọn gốc ghép thích hợp cho từng loại cây vàtùy từng khó khăn sinh thái chi tiết, chọn những gốc ghép lùn. Người ta cũng chú ý chọn nhữngcây đầu dòng làm gốc ghép và nhân lên bằng phương pháp vô tính (giâm cành).- nghiên cứu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ăn quả: khoảng cách và mật độ trồng, tạohình, tỉa cành, bón phân, tưới nước, giữ ẩm, chống xói mòn, thống kê thực nghiệm những loạimáy công tác trong vườn quả, máy thu hoạch…- Phòng trừ sâu bệnh: giống cây ăn quả và phòng trừ sâu bệnh đã trở thành hai vấn đềquan trọng. Chương trình phòng trừ tổng hợp (Integrated Pest Management)- thống kê kỹ thuật thu hái, xử lý sau thu hoạch cây ăn quả.

43. DANH MỤC CÁC LOÀI CÂY ĂN QUẢ TRONG NƯỚC.3.1 Cây hạt kín một lá mầm3. 1.1. Họ dứa Bromeliaceae

Cây dứa Ananas comosus (L.) Mer. (A. Sativa L.)3. 1.2. Họ chuối MusaceaeChuối tiêu Musa nana Lour = M. Cavendishii Lamb.Chuối tây, chuối ngự, chuối cau và các giống chuối ăn quả chín khácMusa sapientum L.Chuối bột Musa paradisiaca3. 1.3. Họ dừa Palmaceae = PalmaeDừa Cocos nucifera L.Muồng Phoenix humilis Royle.Chà là Phoenix loureiri (Becc.) Kunth.Cọ Livistona cochinchinensis(BI.) Mảt.3.2 Cây hạt kín hai lá mầm3. 2.1. Đào lộn hột AnacardiaceaeĐào lộn hột Anacardium occidentale L.Sấu Dracontomelum dupperreanum PierreMuỗm Mangifera foetida.Xoài Mangifera indica L.Quéo Mangifera reba Piesre.Cóc Spondias dulcis Soland et ParkThanh trà Bouea oppositifolia (Roxb.) Adelb.Dâu da xoan Allospondias lakonensis (Pierre) Stapf.3. 2.2. Họ na AnnonaceaeNa Annona squamosa L.Mãng cầu xiêm Annona muricata L.Nê (bình bát) Annona reticulata L.Bình bát nước Annona glabra L.Na quả tròn Annona montana Macfad.3. 2.3 Họ trúc đào ApocynaceaeGùi (guồi) Willughbeia cochinchinensis Pierre.3. 2.4. Họ gạo BombacaceaeSầu riêng Durio zibethinus Murr.3. 2.5. Họ trám BurseraceaeTrám trắng (cà na) Canarium album (Lour) Raeusch et DC.Trám đen (cây bùi) Canarium tramdenum Yakovl et Đai.Trám chim Canarium tonkinensis Engl3. 2.6. Họ xương rồng CactaceaeThanh long Hylocereus undatus (Haw.) Britt et Rose.3. 2.7. Họ vang Caesalpiniaceae = LeguminaceaeMe Tamarindus indica L.

5Xay Dalium cochinchinensis Pierre.3. 2.8. Họ đu đủ Caricaceae = PapayaceaeĐu đủ Carica papaya L.3. 2.9. Họ bàng CombretaceaeBàng Terminalia catappa L.3. 2.10. Họ bầu bí CucurbitaceaeDưa hấu Citrullus vulgaris Schral = C. lanatus (Thumb.)Mausf.Dưa lê Cucumis melo3. 2.11. Họ sổ DilleniaceaeSổ bà Dillenia indica L.3. 2.12. Họ thị EbenaceaeThị Diospyros decandra Lour.Hồng Diospyros kaki L.F.Cậy Diospyros lotus L.Hồng rừng Diospyros tonkinensis A. Chev.Thị rừng Diospyros rubra H.Lee.Hồng nhung Diospyros discolor Willd.3. 2.13. Họ nhót Eleagnaceae

Nhót Eleagnus latifolia L.3. 2.14. Họ thầu dầu EuphorbiaceaeDâu gia Baccaurea ramiflora Lour.Me rừng (Chùm ruột núi) Phyllanthus emblica L.Chùm ruột Phyllanthus acidus (L.) Skeels.Chòi mòi Antidesma bunius (L.) Spreng.3. 2.15. Họ sồi giẻ FagaceaeGiẻ Trùng Khánh Castanea mollisima Bl.Giẻ Yên Thế Castanopsis boisii Hikel et Camus.Giẻ Bắc Giang Castanopsis tribuloides A.DC.3. 2.16. Họ mùng quân FlacourtiaceaeHồng quân Flacourtia cataphracta Roxb.Flacourtia jangomas (Lour.) Raeusch.Bồ quân rừng Flacourtia rukam Zoll et Moritzi.3. 2.17. Họ bứa Guttiferae = ClusiaceaeMăng cụt Garcinia mangostana L.Dọc Garcinia multiflora Champ. =G. TonkinensisBứa Garcinia conchinchinensis (Lour.)Choisy.Tai chua Garcinia cowa Roxb. = G. LoureiriPierre.3. 2.18. Họ óc chó Juglandaceae

6Óc chó Juglans regia L.Mạy châu (Sơn hạch đào) Carya tonkinensis H.Lec.3. 2.19. Họ long não LauraceaeBơ (avôcachiê) Persea americana Mill.3. 2.20. Họ măng rô Malpighiaceae

Sêri Malpighia punicifolia L. = M. Glabra L.3. 2.21. Họ xoan MeliaceaeLòn bon Lansium domesticum Hiern. VarLangsat Jack.3. 2.22. Họ trinh nữ MimosaceaeMe tây Enterolobium saman Prain.3. 2.23. Họ dâu tằm MoraceaeMít nài Artocarpus asperula Gagnep.

Mít Artocarpus heterophyllus Lam=A. IntegrifoliaMít tố nữ Artocarpus champeden (Lour.) Spreng.Xa kê Artocarpus communist Forst. = A. Altilis (Park)Fosb.Chay Artocarpus tonkinensis A. Chev.Vả Ficus auriculata Lour. = F. Roxburghii Wall.Dâu ăn quả Morus acidosa Griff.Dâu tằm Morus alba L.3. 2.24. Họ dâu rượu MyricaceaeThanh mai Myrica rubraDâu rượu Myrica nanaDâu Tây Nguyên Myrica esculenta3. 2.25. Họ sim MyrtaceaeỔi Psidium guajava L.Ổi tàu Psidium guajava L. Var. PumilumWahl.Sim Rhodomyrtus tomentosa (Ait.)Hassk.Lý, bồ đào Eugenia jambos L.Gioi (mận, đào tiên) Eugenia javanica Lam.Điều đỏ Eugenia malaccensis Linn.

3. 2.26. Họ chua me đất OxalidaceaeKhế Averrhoa carambola L.Khế tàu (Khế dưa chuột) Averrhoa bilimbi L.3. 2.27. Họ lạc tiên PassifloraceaeChùm bao (chanh dây) Passiflora edulis Sims. Var.FlavicarpaDưa tây Passiflora quadrangularis L.

73. 2.28. Họ lựu PunicaceaeLựu Punica granatum L.3. 2.29. Họ táo ta RhamnaceaeTáo ta Ziziphus mauritiana Lamk.Táo Tàu Ziziphus jujuba Mill = Z. Vulgaris Lam.Táo dại Ziziphus oenoplia Mill.3. 2.30. Họ hoa hồng RosaceaeNhót tây (Sơn tra N hật Bản) Eriobotrya japonica (Thunb.)Lindl.Dâu tây Fragaria vesca L.Mắc coọc Pyrus pashia Ham.Lê Pyrus pyrifolia Nakai.Táo tây Malus pumila Mill.Sơn tra (chua chát) Crataegus pinnatifida Bunge.Mơ Prunus armeniaca L.Song mai Prunus mume S tet Z.Mận Prunus salicina LindlĐào Prunus persica (L.) Batsch.Đào dại Prunus macrophylla Sieb et Ziec.Mâm xôi Rubus alcaefolius Poir.Ngấy hương Rubus cochinchinensis Tratt.

Ngấy tía Rubus parvifolius L.3. 2.31. Họ cam RutaceaeBưởi bung Acronychia pedunculata (L.) Miq.Quýt rừng (quýt gai) Atalantia roxburghiana Hosk F.Bưởi Citrus grandis (L.)Osbeck (C.Decumana Murr)Bưởi chùm Citrus paradishi Macf.Quất Fortunella Swingle.Thanh yên Citrus medica L.Phật thủ Citrus medica var. Sarcodactylis (Sieb)Sw.Chanh giấy Citrus limonia Osbeck.Chanh núm Citrus limon Burm.Cam đắng Citrus aurantium L.Cam chanh Citrus sinensis Osbeck.Quýt Citrus reticulata Blanco (C. Nobilis Loureiro, C.Deliciosa Tenore)Chanh lime Citrus aurantifolia Swingle.Chấp Citrus hystrix D.C.Chanh sần Citrus jambhiriKim quất Triphasia trifolia (Burm. F.)P.

8Hồng bì Clausema lansium (Lour.) Skeels.3. 2.32. Họ bồ hòn SapindaceaeVải Litchi sinensis Sonn. (Nephelium litchi Cambes)Nhãn Euphoria longan (Lour.) Steud. (Nepheliumlongana Cambes)Chôm chôm Nephelium lappacum L. = RambutanVải rừng Nephelium bassacence Pierre.

Nhãn rừng Euphoria chevalieri Gagnep.3. 2.33. Họ hồng xiêm SapotaceaeHồng xiêm Achras zapota L.Vú sữa Chrysophyllium canito L.Lêkima (trứng gà) Lucuma mamosa Gaertn.3. 2.34. Họ đay TiliaceaeTrứng cá Muntingia calabur L.3. 2.35. Họ trôm SterculiaceaeLười ươi Scaphium lychnophorum (Hance) Kost.3. 2.36. Họ nho Vitaceae = AmpelidaceaeNho Vitis vinfera L.Nho rừng Ampelocissus martini Planch.

4. PHÂN LOẠI CÂY ĂN QUẢ Ở VIỆT NAM.

Ở Việt Nam có 39 họ, 124 loài và có trên 350 giống. Dựa vào nguồn gốc và bắt buộc vềnhiệt độ để sinh trưởng và phát triển có khả năng được chia thành ba loại .- Nhóm cây ăn quả nhiệt đới: chuối, dứa, mít, xoài, ổi, dừa, đu đủ, na, sầu riêng, măngcụt, vú sữa, hồng xiêm, trứng gà, me, gioi, dâu gia, táo, chùm ruột, khế, dưa, hấu, đào lộnhột…- Nhóm cây ăn quả á nhiệt đới: bơ, cam, quýt, vải, nhãn, lựu, hồng, nhót…- Nhóm cây ăn quả ôn đới: mận, táo tây, đào, lê, nho, dâu tây, óc chó…Trong ba nhóm trên, nhóm cây ăn quả nhiệt đới chiếm vị trí quan trọng về tỷ lệ thànhphần loài và giống cây ăn quả tương đương diện tích trồng.hiện nay có 40 loài với hàng trăm giống trồng rộng rãi ở các vùng có tổng giá trị kinh tếnhư: chuối, mít, dứa, na, xoài, đu đủ, sầu riêng, măng cụt, hồng xiêm, chôm chôm, gioi, dâugia, táo, chùm ruột, khế, đào lộn hột, bơ, cam, quýt, chanh, bưởi, vải, nhãn, lựu, hồng, nhót,mận, táo tây, đào, lê, nho, thanh long…Dựa vào tổng giá trị dùng danh mục có thể chia thành các nhóm:- Nhóm cây ăn quả cho đường bột: mít, chuối, hạt dẻ, xakê.

– Nhóm cây cho chất béo: bơ, dừa, óc chó, mạy châu.- Nhóm cung cấp nguồn vitamin các loại: cam, quýt, chanh, xoài, bơ, đu đủ, ổi, sêri,đào lộn hột…- Nhóm cây ăn quả sử dụng các bộ phận của cây để làm thuốc: đu đủ (hoa, thịt quả),măng cụt (vỏ), táo (lá), lựu (rễ), chuối (thịt quả)…

9- Nhóm cây ăn quả vừa cho quả vừa làm cây bóng mát: xoài, dừa, mít, sấu, nhãn, vải,hồng xiêm, vú sữa, dâu gia, xoan, lựu…- Nhóm cây ăn quả cho ta nanh: hồng, vải, bàng, măng cụt, cóc, sim, ổi..- Nhóm cây chủ để thả cánh kiến: táo, vải, nhãn, óc chó, bình bát.- Nhóm cây nguồn mật: vải, nhãn, táo, cam, quýt, xoài.- Nhóm cây cho nhựa: trám, đu đủ, hồng xiêm.- Nhóm cây ăn quả làm rau: mít, đu đủ, dọc, sấu, tai chua, khế.

Mọi Người Xem :   Bằng khen và giấy khen

5. TÌNH HÌNH PHÂN BỐ TỰ NHIÊN CÂY ĂN QUẢ Ở NƯỚC TA

Trải dài 15 vĩ độ từ Bắc vô nam, lại ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu mỗi vùng cónhững nét riêng. Các yếu tố sinh thái như nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, lượng bức xạ, gió,độ ẩm không khí, đất đai, tình hình sâu bệnh… không những ảnh hưởng trực tiếp đến sinhtrưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất của từng giống cây ăn quả mà còn gây ảnh hưởngsự phân bố các loài và giống cây ăn quả trên địa bàn cả nước.Những loài cây ăn quả như chuối, dứa, mít, hồng xiêm, táo, ổi, na, đu đủ, cam, chanh,quýt bưởi…được trồng rộng rãi ở các vùng trong nước, trừ những nơi mùa đông có nhiệt độthấp hoặc sương muối.Do yêu cầu điều kiện sinh thái của từng giống, đối chiếu với tình hình khí hậu đất đaicụ thể ở các vùng, một số cây ăn quả có phạm vi phân bố hẹp hơn.Ví dụ:-Vải và hồng trồng và cho quả tốt từ vĩ tuyến 18 – 19 trở ra Bắc. Ở miền Nam hồng chỉtrồng được ở Đà Lạt có độ cao so với mặt biển khoảng 1500m.

– Xoài trồng tốt kể từ Bình Định trở vào (Vĩ tuyến 14). Nếu trồng lên phía Bắc lúc rahoa gặp rét và ẩm, tỷ lệ đậu quả rất thấp, hiệu quả kinh tế kém. Riêng vùng Yên Châu (SơnLa) và Khe Sanh – Lao Bảo (Quảng Trị) có tiểu khí hậu gần giống với miền Nam nên ở đóxoài sinh trưởng khỏe, ra hoa đậu quả tốt.- Đào lộn hột thích hợp với vùng cát ven biển từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào.- Bơ phát triển tốt, cho nhiều quả trên đất Tây Nguyên, các tỉnh miền Bắc cũng có thểtrồng được nhưng chú ý chọn giống tốt và phòng trừ sâu bệnh trong mùa mưa.- Dừa trồng có hiệu quả kinh tế từ Thanh Hóa trở vào ở 19 – 20 vĩ độ Bắc. Vượt quá 20vĩ độ Bắc tuy cây dừa sinh trưởng tốt nhưng kết quả kém.- Sầu riêng, măng cụt là hai cây ăn quả nhiệt đới điển hình cho đến nay mới trồng đếnThừa Thiên Huế.- Cây ăn quả ôn đới như: mận, đào, lê, hạt giẻ, óc chó, trồng và cho thu hoạch tốt ở cáctỉnh phía Bắc ở các độ cao từ 500m trở lên so với mặt biển.- Trồng nho tốt nhất ở vùng Thuận Hải (vùng Phan Rang và các huyện lân cận). Thanhlong mọc tốt cho nhiều quả ở tỉnh Bình Thuận đang có chiều hướng mở rộng ở nhiều tỉnh đồngbằng sông Cửu LongViệc chọn các giống cây ăn quả thích hợp cho các vùng trong nước không chỉ giúpcác nhà làm vườn Giảm được vốn đầu tư, buôn bán có lãi mà còn có khả năng hình thành đượcvùng sản xuất chuyên canh để có thể có khối lượng hàng hóa lớn cung cấp cho nhu cầu trongnước và xuất khẩu.

10

BÀI 2: CẤU TẠO CHUNG VÀ CÁC QUY LUẬT SINHTRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY ĂN QUẢ

A. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÂY ĂN QUẢ THÂN GỖ LÂU NĂM

1. HỆ RỄ1.1. CÁC DẠNG CỦA BỘ RỄ.

Căn cứ vào các hình thức nhân giống cây ăn quả, có khả năng phân chia rễ thành hai nhómsau:1.1.1. Hữu tínhGồm những cây ăn quả mọc từ hạt và những cây mà hệ rễ mọc từ hạt, nhưng phần trênmặt đất được ghép giống khác.1.1.2. Vô tínhGồm những cây có hệ rễ mọc ra từ các đốt trên thân cây (dâu tây) hoặc ở các vị trí bấtkỳ trên thân, cành do chiết cành, giâm cành, giâm rễ.

1. 2. PHÂN LOẠI RỄ.

1. 2.1. Căn cứ vào nguồn gốc: có hai loại rễ chính và rễ phụ.- Rễ chính: mọc từ phôi rễ ở hạt- Rễ phụ: mọc từ các mầm phụ ở các cơ quan khác nhau trên cây (thân, lá, rễ)1. 2.2. Căn cứ vào sự phân bố của rễ trong đất: có hai loại rễ ngang và rễ đứng.- Rễ ngang: phân bố song song với mặt đất ở độ sâu từ 10 – 100 cm hay sâu hơn. Rễnày có chức năng hút nước, hấp thụ các chất dinh dưỡng…- Rễ đứng: mọc vuông góc với bề mặt đất, ăn sâu từ 1 – 10m có tác dụng giữ cho câyđứng vững. Rễ đứng còn có khả năng huy động các chất dinh dưỡng, nước ở các tầng đất sâu chocây.1. 2.3. Căn cứ vào độ dài và độ lớn của rễ: bao gồm rễ cái, rễ con và rễ tơ.- Rễ cái và rễ con: từ cấp 0 đến 1,2,3 thì rễ cái (rễ trụ) cấp 0, còn rễ con (rễ nhánh) từrễ cấp 1, cấp 2, cấp 3… những rễ này có độ dài 1cm – 10m, độ lớn 1mm – 5cm- Rễ tơ (rễ hút) rất ngắn (1mm – 2cm) và nhỏ (1 – 3mm). Theo phân cấp thì những rễnày thông thường từ cấp 4 – cấp 71. 2.4. Căn cứ vào hình thái, giải phẫu và chức năng- Rễ sinh trưởng (rễ trục) : phát triển mạnh về chiều dài và ăn sâu vào các lớp đất, hìnhthành các rễ hút mới. Nếu bị gẫy thì rễ không phát triển thêm được mà chỉ kích thích các rễcon phát triển lên rất mạnh. Người ta áp dụng đặc tính này khi đánh trồng một vài cây ăn quảbằng cách cắt ngắn bớt rễ cái khiến bộ phận rễ còn lại mọc càng nhanh và nhiều thêm.

– Rễ hút: nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng từ trong đất nuôi cây. Rễ này khôngsống được lâu (chỉ trong vòng 15 – 25 ngày, cá biệt được một vài tháng) sau đó chết đi từngmảng.- Rễ quá độ: nguồn gốc của loại rễ này phần lớn từ rễ hút mà ra và sau đó một thờigian thì chết đi, còn phần nhỏ nữa được hình thành từ rễ sinh trưởng, loại này sau một thời

11gian có khả năng hình thành rễ thứ cấp và lúc đó trở thành rễ hút. Sự có mặt của loại rễ này là dấuhiệu chứng tỏ vận hành của bộ rễ khá tốt.- Rễ vận chuyển: là từ rễ sinh trưởng mà ra. Chức năng của nó là vận chuyển nước vàthức ăn (hai chiều), đồng thời cố định cây vào đất.+ Lông hút: trên miền hấp thụ của rễ, một số tế bào của lớp biểu bì kéo dài ra phíangoài, hình ống và hình thành lông hút. Tầng lông hút chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn.Ở các bộ phận rễ già thì nó chết dần và được phát sinh ở các cơ quan rễ non mới.+ Rễ nấm: rễ nấm ở cây ăn quả thường có nấm ngoại sinh và nấm quá độ. Cây cungcấp hydrat carbon cho nấm, ngược lại nấm cung cấp nước và các chất khoáng cho rễ ( táo tây,lê, mận, anh đào, hạt giẻ, óc chó, cam, quýt, nhãn, vải và các loại quả mọng.)

2. M ẦM VÀ CÀNH

2. 1. MẦM2. 1.1. những loại mầm.2. 1.1.1. Dựa vào cấu trúc và hình thái:- Mầm lá- Mầm hoa: đào, mận, mơ…- Mầm hỗn hợp: cam, quýt, nho, hồng, táo ta…2. 1.1.2. Dựa vào vị trí mầm đã được cố định hay bất định:- Mầm cố định: mầm ngọn, mầm nách.- Mầm bất định: mọc ra từ rễ hoặc từ các vị trí khác trên cành, trên thân.2. 1.1.3. Căn cứ vào vị trí của mầm trên nách lá:

– Mầm chính: (2 hoặc 3) ở nách lá mầm chính thường ở giữa rất sung sức.- Mầm phụ: mọc ở hai bên mầm chính hoặc phía trên mầm chính.2. 1.1.4. Căn cứ vào số mầm trên đốt cành:- Mầm đơn.- Mầm kép: đào, mận.2. 1.1.5. Căn cứ vào sự vận hành của mầm.- Mầm vận hành.- Mầm ngủ.có thể khái quát các loại mầm cây ăn quả theo sơ đồ sau:Mầm láMầm ngọn Mầm thuầnMầm cố định Mầm hoaMầm nách Mầm lá Mầm hỗn hợpMầm Mầm thuầnMầm hoaMầm bất định Mầm hỗn hợp

2. 1.2. Đặc tính các loại mầm2. 1.2.1. Sức nảy mầm.

12Mầm lá tỷ lệ nảy mầm cao (sức nẩy mầm khỏe). Ví dụ: một vài giống cây trong nhómquả hạch như đào, mận,…Ngược lại khi trên cành phần lớn mầm không nảy, ở vào trạng tháingủ, trong trường hợp này sức nảy mầm của cây yếu. Ví dụ: táo tây, lê…Cây có sức nảy mầm khỏe thường cho những cành dài và khỏe, cây có sức nảy mầmyếu cho những cành yếu.2. 1.2.2. Độ thành thục của mầm.Khi thành mầm xong, mầm đó có thể nảy ngay thành cành (mầm chín sớm: đào, nho,cam, quýt) những giống cây ăn quả này trong một năm cho nhiều đợt cành. Cây ăn quả cómầm chín sớm thường sớm bước vào thời kỳ cho quả. một số cây ăn quả xứ lạnh mầm thường

chín muộn hơn. Ví dụ: lê và táo tây…năm trước hình thành mầm thì phải đến năm sau mớihình thành lộc cành.2. 1.2.3. có khả năng hồi phục sức sống.Ở một vài cây ăn quả khi bước vào thời kỳ già cỗi người ta thường cưa đốn, kích thíchcho các mầm ngủ trở lại hoạt động, hình thành những mầm cành mới, giúp cây phục hồi sứcsống. Ví dụ: cam, quýt, xoài, táo ta.2.1.3. Tính khác nhau giữa các mầm trên một đoạn cành.Trong quá trình hình thành mầm, do vị trí của mầm trên cành, khó khăn dinh dưỡng vàkhó khăn ngoại cảnh … giữa các mầm có sự khác nhau về đặc điểm di truyền và đặc điểm sinhtrưởng.Trên một cành, mầm ở ngọn thường non, ở gốc cành lại càng già. Mầm ở giữa hoặcgần phía trên cành phát dục đầy đủ và sung sức hơn các mầm ở dưới. Nhưng cũng có trườnghợp một số cây ăn quả trên một cành những mầm ở dưới phát dục đầy đủ, sức nảy mầm khỏehơn. Nắm được đặc điểm trên của những loại mầm cành ta có thể cắt tỉa hợp lý hoặc chọn mầmđể ghép, hoặc sử dụng các đoạn cành để giâm cành.

2. 2. CÀNH.

2. 2.1. Cấu tạo tán câyBộ phận trên mặt đất của cây ăn quả ngoài thân chính ra, phần còn lại được gọi là táncây. Tán cây gồm các cành chính, cành phụ và những cành nhỏ ở ngoài tán gọi là nhánh.Trên thân chính mọc các cành chính. Chúng hợp thành khung tán tạo cho cây có mộtthế vững chắc, tạo điều kiện cho cây đồng hóa được tốt và chống được gió bão và những điềukiện ngoại cảnh không thuận lợi. Trên cành chính lại phát triển các cành phụ. Trên cành chínhvà cành phụ tiếp tục mọc các đợt cành mới.Thân chính cấp 0, cành mọc trên thân chính gọi là cành cấp 1, cành mọc trên cành cấp1 gọi là cành cấp 2 và cứ thế tiếp tục cho đến các đợt cành cấp 3, 4, 5, 6, 7…Mỗi giống cây ăn quả, trong điều kiện ngoại cảnh và chăm sóc nhất định, cây bước vàothời kỳ ra hoa kết quả và có năng suất cao thường ở một vài cấp cành nhất định.V í dụ: ở đào cấp cành 7 – 12, cam, quýt thì ở cấp cành 3-4.

2. 2.2. các loại cànhDựa vào chức năng của cành chúng ta phân biệt: cành quả, cành mẹ, cành dinh dưỡng.Nếu căn cứ vào mùa vụ hình thành cành thì có cành xuân, cành hạ, cành thu, cành đông. Nếudựa vào thứ tự xuất hiện thì có thể chia: đợt cành thứ nhất, thứ hai, thứ ba…

132. 2.2.1. Cành quả.Trên cành mang hoa và đậu quả, có hai loại cành quả.- Cành quả một năm: đây là một loại cành hỗn hợp gồm có lá và hoa, hoa phát triểnthành quả ra trên cành mẹ năm trước, cành và hoa ra cùng một lúc trong năm (cam, quýt, nho,lê, nhãn, vải, hồng).- Cành quả năm trước: hoa nở và phát triển trên cành năm trước (đào, mận…).Còn có khả năng căn cứ vào độ dài của quả để chia:- Cành quả dài.- Cành quả trung bình.- Cành quả ngắn.- Cành quả chùm.Căn cứ vào đặc điểm của từng giống mà khả năng hình thành cành quả ở mỗi loại cũngcó khác.2. 2.2.2. Cành mẹ.Là loại cành để nâng đỡ và nuôi dưỡng các cành quả. Phần lớn cành mẹ phát sinh từnăm trước khá sung sức, trên cành có những mầm hỗn hợp, năm sau từ những mầm này pháttriển thành cành quả (cam, quýt, nho, lê, hồng, nhãn, vải).2. 2.2.3. Cành dinh dưỡng: thường gặp hai loại.- Cành dinh dưỡng bình thường: độ dài vừa phải, mô cành chắc, góp phần cho tán câyphát triển thêm, và nếu phát triển tốt, sung sức cành này có khả năng phát triển thành cành mẹ.- Cành tược: do các mầm ở ngọn cành, các mầm ngủ hoặc do các mầm bất định. Cànhmọc rất khỏe, mọc đứng, dài và có chu vi cành lớn, đốt cành thưa, lá to bản, mô cành khôngđược chắc. có thể dùng loại cành này vào việc phục hồi tán cây cho những cây đã già cỗi,hoặc bổ sung thêm một phần nào đó của tán cây do bị sâu bệnh hoặc bị gãy đổ. Nếu không vì

các mục đích trên thì nên sớm tỉa bỏ.Ngoài những loại cành trên ở một số loại cây ăn quả như táo ta, hồng, mận…từ các mầmbất định ở vị trí trên rễ cũng có thể nẩy mầm để hình thành cây. Lợi dụng các đặc vị trí này đểnhân giống nhất là đối với những giống quả không hạt khó ghép thành cây.

2.2.3. Đặc điểm sinh trưởng của cành.2.2.3.1. Tính hướng dương.Những mầm ở ngọn sinh trưởng mạnh hơn những mầm dưới. Cành mọc đứng, chấtdinh dưỡng vận chuyển đến được đơn giản và đầy đủ hơn nên thường mọc rất khỏe. Cành mọcxiên ở dạng trung bình và cành là thường yếu. Góc hình thành giữa thân chính và cành cànglớn thì sức sống của cành càng yếu. Ngược lại góc càng nhỏ sức sống của cành càng khỏe.2.2.3.2. Hiện tượng phân tầng của tán cây.Do tác động của cực tính mầm ngọn tiếp tục sinh trưởng, thế cành mọc đứng, mọckhỏe một số mầm phía dưới mầm ngọn này thành những cành dài theo hướng nghiêng và saunày trở thành cành chính, còn những mầm ở gốc cành thì trở thành những mầm ngủ, khôngphát triển. Từ cây con ban đầu, qua một số năm sinh trưởng giữa thân chính và cành chínhhình thành từng tầng từ dưới lên. Hiện tượng đó gọi là “hiện tượng phân tầng”. Do hiện tượngphân tầng ta thấy trên cây có những khoảng cách nhất định giữa các tầng Vì vậy tạo khó khăn

14để có đủ ánh sáng, không khí, tăng thêm khả năng đồng hóa và sức sống của cây, giảm bớt sâubệnh, tăng thêm diện tích kết quả, Vì vậy có thể đạt được sản lượng cao. Hiện tượng phân tầngthường gặp ở một số giống cây ăn quả xứ lạnh như táo tây, lê, cây óc chó, nhót Nhật Bản…cònnhững cây ăn quả có thể hình thành cành khỏe như cam, quýt, mận, đào, táo Thiện Phiếnthì hiện tượng phân tầng không rõ.2.2.3.3. Hiện tượng cân bằng về hình thái.Trên một giống cây, cùng tuổi, cùng một cấp cành, ở cùng một tầng trên tán, cànhchính có sức sinh trưởng cũng như thì khi hình thành cành mới xét về kết cấu, số lượngcành trên đó, trình tự sắp xếp và sức sinh trưởng cho dù trên một cây hay khác cây đều cónhững đặc tính cũng như giống nhau, hiện tượng đó gọi là hiện tượng cân bằng về hình

Mọi Người Xem :   Quả Bí Ngô trong tiếng anh là gì: Định nghĩa, ví dụ. - Mẹo Vặt Hay Cho Gia Đình - MeoVatAz.Com - Hội Buôn Chuyện

thái.Nắm được đặc điểm này ta có thể chủ động điều khiển khi tạo hình và cắt tỉa.2.2.3.4. Mối quan hệ giữa thân, cành và ra hoa kết quả.Thân chính càng cao, khoảng cách giữa bộ phận trên không và rễ dưới đất càng xa, câychậm ra quả. do đó người ta muốn cây có thân chính thấp, cành trong tán không nên quá dày,bộ phận ra quả trên cây không nên quá xa thân chính và cành chính. Trong xu hướng chọn gốcghép Hiện tại người ta đã chọn được những gốc ghép lùn (M16, M25 của táo tây, Poncirustrifoliata tứ bội thể cho cam và chanh…) và những tổ hợp ghép này đã giúp cho cây sớm rahoa, kết quả, có năng suất cao, tiện cho việc chăm sóc, cắt tỉa và thu hái quả.Mối quan hệ giữa thân cành và ra hoa kết quả có một sự gắn bó hết sức mật thiết.Trong chu kỳ sinh trưởng của cây ăn quả sự hình thành, sự sinh trưởng của lộc cành mới vớiviệc phân hóa mầm hoa, sự phát triển của quả có mối quan hệ mật thiết với nhéu. Nếu cành lásinh trưởng quá yếu, có khả năng đồng hóa sẽ kém việc phân hóa mầm hoa, sự phát triển của quảkhông thuận lợi. Ngược lại cành lá sinh trưởng quá mạnh, thời gian sinh trưởng kéo dài, tiêuhao nhiều dinh dưỡng, do đó việc phân hóa mầm, sự phát triển của quả cũng gặp điều kiện.Bởi vậy những cành lá mới chỉ phát triển với một độ vừa phải là tốt nhất.

3. LÁ

3. 1. HÌNH THÁI CỦA LÁ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA GIỐNG.Gồm các cơ quan: cuống lá, phiến lá, chóp lá, gốc lá, biên lá, eo lá. Hình dạng lá, màusắc lá, lá có eo lá hay không, trên lá có lông tơ hay không, thường xuyên hay ít… đó là tiêu chuẩn cơbản để phân biệt các giống. Trong một giống, trên một cây lá ra trong các mùa cũng có sựkhác nhéu về độ lớn, về chỉ số chiều dài trên chiều rộng, về độ lớn của răng cưa ở biên lá, vềmàu sắc…Cùng một giống nhưng có bộ nhiễm sắc thể khác nhéu thì về cấu tạo và hình tháicũng khác nhéu.

3. 2. CÔNG THỨC DIỆP TỰ.Sự sắp xếp của lá trên cây thường theo một trình tự nhất định gọi là diệp tự. Các giốngcây ăn quả khác nhau có công thức diệp tự khác nhéu. Công thức diệp tự thường gặp là 2/5

như đào, mận , hồng, cam, quýt, táo, lê…ngoài ra còn có 1/2 như nho, 1/3, 3/8, 4/11, 5/13…

15Ở mỗi nách lá đều đặn có mầm nách, khi nẩy mầm hình thành cành, sự phân bố cành trêncành mẹ ban đầu có liên quan trực tiếp đến công thức diệp tự. Biết rõ công thức diệp tự củatừng giống có khả năng khống chế sinh trưởng của cành trong việc tạo hình và cắt tỉa.

3. 3. LÁ VỚI Đ ỜI SỐNG CÂY ĂN QUẢ.chức năng sinh lý của lá chủ yếu là tiến hành quang hợp, phát tán và dự trữ các chấtdinh dưỡng để nuôi cây, nuôi quả.Khi nghiên cứu quy trình phát triển của quả, người ta cho rằng để tạo khó khăn cho quảphát triển được tốt, mỗi quả cần một lá nhất định.Theo Ngô Cảnh Dân (1960) thì táo tây cần 30 – 40 lá, sakê 10 – 25 lá, lê châu Âu 20 -30 lá, quýt Ôn Châu 20 – 25 lá, cam Navel 50 lá. Samel khi thống kê những loại quả trong họphụ cam quýt cho rằng, nếu có số lá để nuôi quả càng nhiều thì quả càng lớn.Overhaser, Claypool (1935) nhận thấy với quả anh đào ngọt, khi tăng số lá thì hàmlượng đường trong quả, màu sắc quả, chỉ số quả đều đặn tăng.

3. 4. CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CẦN CHÚ Ý ĐỐI VỚI LÁ.- Giữ cho lá xanh tốt, rụng đúng kỳ hạn, không rụng đột ngột, hoặc bất thường.- Tạo mọi khó khăn tốt để chuyển lục tốt.- Tìm mọi biện pháp để tăng cường có khả năng đồng hóa của cây đến tối đa.Ví dụ: đảm bảo mật độ hợp lý, cung cấp nước, phân bón đầy đủ, cắt tỉa hợp lý, phòngtrừ sâu bệnh kịp thời…

4. HOA .Hoa là cơ quan sinh sản hữu tính của cây gồm cuống hoa, đế hoa, đài hoa, cánh hoa,nhị, nhụy. Các loài cây ăn quả khác nhéu, cấu tạo hoa cũng khác nhéu, có khả năng chia làm hailoại:- Hoa lưỡng tính (hoa đủ) là hoa có đủ nhị và nhụy (cam, quýt, đào, mận, táo…) những

hoa này có khả năng tự thụ phấn hoặc thụ phấn nhờ côn trùng.- Hoa đơn tính là hoa chỉ có nhị hoặc nhụy (vải, nhãn, đu đủ, mít, cây hạt giẻ, cây ócchó…).một số cây ăn quả như xoài, hồng, dâu tằm, nhãn, đu đủ (loại cây lưỡng tính và câyđực) trên một cây thường gặp cả hoa lưỡng tính và hoa đơn tính.Mỗi một mầm hoa có thể hình thành một hoa (đào, mơ), hay có khả năng nở được 4 – 5hoa (mận, táo, lê) và cũng có thể từ 10 đến hàng trăm hoa (thành chùm hoa) vải, nhãn, xoài,nho… các loại cây ăn quả khác nhéu, có khả năng chia thành nhóm hoa tự sau:- Vải, nhãn, nho, xoài, hoa tự là chùm kép, hình chóp.- Dứa: bông kép.- Lê: ngù.- Táo: tán.- Cam, quýt: chùm.- Dâu tây, mít: đầu trạng.

16các loại hoa tự khác nhéu thì trình tự nở hoa cũng khác nhau: táo (tán) hoa ở giữa nởtrước, lê hoa ở hai bên nở trước, cam, quýt thường hoa ở ngọn nở trước, dâu tây hoa ở dưới nởtrước.Những hoa nở trước có khó khăn dinh dưỡng thuận lợi, có khả năng thụ tinh phát triểnthành quả, những quả này thường to hơn, phẩm chất tốt hơn những quả ra sau. Nắm được đặcvị trí này có thể làm tốt việc giữ hoa, giữ quả, bớt tỷ lệ rụng quả, nâng cao được năngsuất.

5. QUẢ VÀ HẠT.Bộ phận ăn được ở các loài cây ăn quả thường không giống nhéu. Ví dụ: cam, quýt,vải, nhãn, lê, táo, nho… phần sử dụng để ăn thực chất là quả, còn ở cây óc chó, hạt giẻ…là hạt,sử dụng cả quả lẫn hạt như ở cây dâu tây…

5.1. CẤU TẠO QUẢ VÀ HẠT.

Hoa sau khi thụ tinh xong phôi châu phát triển thành hạt còn vách bầu và các bộ phậnkhác của hoa phát triển hình thành quả.Quả do vách bầu phát triển thành, thường gọi là quả thật, còn do đế hoa và các bộ phậnkhác phát triển và hình thành quả gọi là quả giả.Quả thật do ngoại bì, trung bì và nội quả bì cấu tạo nên.- Ngoại quả bì: lớp biểu bì ngoài cứng, cấu tạo giống các lớp biểu bì khác có một lớpsừng, bì khổng, có lúc có sáp và phấn (táo, mận, nho); có lúc có lông nhung (đào, mơ)- Trung quả bì: chiếm phần quan trọng trong quả, về kết cấu lớp này cũng có nhiềubiến đổi.+ Hoàn toàn do tế bào màng mỏng cấu tạo thành, trong tế bào mọng nước ăn ngọt nhưđào mận…+ Ngoài lớp tế bào có màng mỏng còn có lớp tế bào có vách dày, khi chín biến thànhmột lớp vỏ cứng (cây dâu rượu).+ Lớp tế bào này có nhiều xơ như dừa.+ Có trường hợp không sao phân biệt được giới hạn giữa trung quả bì và nội quả bì.Chúng đều đặn là những tế bào màng mỏng, mọng nước, ngọt dùng để ăn như quả nho.- Nội quả bì: sát gần hạt, có khả năng phân biệt một vài trường hợp sau đây:+ Các tế bào của nội quả bì lignin hóa thành một lớp dày tạo thành một lớp vỏ cứngnhư mận, đào, mơ, dừa…+ Tế bào bên trong nội quả bì hình thành những con tép mọng nước, có đường ăn đượcnhư cam, chanh, quýt, bưởi.Cây ăn quả có nhiều loài. Cấu tạo quả và các bộ phận dùng để ăn cũng không giốngnhau. Ví dụ:- Táo, lê bộ phận ăn được do đế hoa phát triển mà thành.- Vải, nhãn do vỏ giả của hạt. Cuống noãn phát triển bao quanh lấy hạt.- Dứa do trục bông hoa dứa cùng với lá bắc ở các ở các hoa trong bông.- Lựu do vỏ ngoài của hạt.

17

5. 2. PHÂN LOẠI QUẢDựa vào cấu tạo và đặc tính sinh vật học của quả, dựa vào tập quán sử dụng tạm chianhững loại quả thành các nhóm sau.5. 2.1 Quả nhân- Bầu hạ. Sau khi thụ tinh vách bầu phát triển không rõ. Bộ phận ăn được do đế hoa vàống đài phát triển hình thành. Về mặt thực vật học thuộc loại quả giả.5. 2.2 Quả hạch- Bầu thượng. Sau khi thụ tinh, vách tử phòng phát triển thành quả. Bộ phận ăn được làtrung quả bì, nội quả bì rất cứng (Đào, mận mơ, dâu rượu, trám, táo Thiện Phiến)5. 2.3 Quả mọngQuả do nhiều tâm bì hợp lại. Bộ phận ăn được mọng nước (Nho, chuối, khế, hồngxiêm…)5. 2.4 Loại có vỏ cứng ở ngoài: Cây óc chó, dừa, đào lộn hột, hạt dẻ…5. 2.5 Loại quả képPhần ăn được của loại này bao gồm nhiều bộ phận của hoa tự như trục hoa tự, lá bắc,đế hoa, bầu, hợp lại (dứa, mít).5. 3. HẠTSau khi thụ tinh phôi châu phát triển hình thành hạt. Hạt gồm ba phần: vỏ hạt, phôi nhũvà phôi. Phôi trong hạt do mầm phôi, rễ phôi và lá mầm hợp thành.Các loài cây ăn quả khác nhéu số lượng hạt trong một quả cũng khác nhéu. Hình dạng,độ lớn, màu sắc của hạt…Nắm được cấu tạo và đặc điểm quả và hạt sẽ giúp ích rất lớn đối vớicông tác chọn giống, chế biến, cất giữ và vận chuyển quả.

B. QUY LUẬT SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ KẾT QUẢ CỦA CÂY ĂN QUẢ

1. SỰ PHÁT TRIỂN CÁ THỂ CỦA CÂY

1. 1. Mối quan hệ của sự phát triển với bản chất di truyền và điều kiện sinh trưởng.Sinh trưởng, phát triển là kết quả vận hành tổng hợp của những chức năng sinh lý

riêng biệt như: trao đổi nước, quang hợp, hô hấp, vận chuyển và phân bố chất hữu cơ trongcây, dinh dưỡng khoáng và đạm của cây. Các khả năng sinh lý này xảy ra một cách đồng thờivà luôn có mối quan hệ khăng khít ràng buộc với nhéu.Quan niệm về sự sinh trưởng và phát triển của cây được thừa nhận Hiện tại là củaLibbert:- Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tếbào, mô, toàn cây và kết quả dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, dung tích sinh khối củachúng.- Phát triển là quy trình biến đổi về chất bên trong tế bào, mô và toàn cây để dẫn đến sựthay đổi ngay về hình thái và chức năng của chúng.Các biểu hiện về sự sinh trưởng như: sự phân chia tế bào, sự giãn của tế bào, sự tăngkích thước của thân, cành, hoa, lá, quả, sự nảy lộc, đẻ nhánh….là không thể đảo ngược. Nhưng

18sự tăng kích thước và trọng lượng hạt do hút nước không thể xem là sinh trưởng vì đó là quátrình thuận nghịch .Tất cả những biểu hiện có liên quan đến những biến đổi chất để làm thay đổi ngay hình tháivà chức năng của tế bào, của cơ quan…được xem là sự phát triển: sự nảy mầm của hạt có khả năngxem đó là 1 bước nhảy vọt, từ 1 hạt có hình thái và chức năng xác định, nhưng khi nảy mầmthì trở thành một cây con có hình thái và chức năng hoàn toàn khác với hạt – một cây con hoànchỉnh có thể thực hiện các chức năng của một cơ thể thực vật bình thường.Sự ra hoa là một bước ngoặt chuyển từ giai đoạn sinh trưởng các cơ quan dinh dưỡngsang giai đoạn mới hình thành cơ quan sinh sản. Đây là kết quả của một quy trình biến đổi vềchất liên tục và dài lâu để có được những cơ quan sinh sản với chức năng hoàn toàn thayđổi….Ở mức độ tế bào, thì phân hóa tế bào thành các mô chức năng riêng biệt cũng được xemlà quy trình phát triển của tế bào…mặc khác, về ranh giới giữa quy trình sinh trưởng và phát triển thật khó xác định. Cóthể xem đây là hai mặt của một quá trình biến đổi chất và lượng: sự biến đổi về chất đến mộtmức độ nhất định dẫn đến sự thay đổi về lượng; ngược lại sự biến đổi về lượng tạo khó khănthuận lợi cho sự biến đổi về chất.

Trong thực tế, quy trình sinh trưởng và phát triển thường biểu hiện xen kẽ nhéu rất khótách bạch. Vì vậy trong cuộc sống của cây người ta chia ra 2 giai đoạn chính: giai đoạn sinhtrưởng dinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh sản mà ranh giới là sự ra hoa.Trong giai đoạn thứ nhất thì hoạt động sinh trưởng và phát triển của các cơ quan dinhdưỡng (rễ, thân, lá) là ưu thế. Còn giai đoạn thứ hai thì sự hình thành, sinh trưởng và phân hóacủa các cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ là ưu thế.Người ta có khả năng điều khiển sao cho tỷ lệ giữa hai giai đoạn này của cây trồng thích hợpnhất với mục đích kinh tế của con người. Muốn điều khiển được sinh trưởng, phát triển củacây thì phải hiểu biết sâu sắc về quy trình này, các nhân tố nội tại và ngoại cảnh điều chỉnh cácquy trình sinh ra hình thái riêng biệt tương đương toàn cây, trên cơ sở đó có những biện phápảnh hưởng thích hợp nhất.Trong sự phát triển của cây hữu tính cũng như cây vô tính, di truyền và biến dị có ýnghĩa lớn. Bản chất của cơ thể truyền lại cho đời sau gọi là di truyền. Cơ thể có bản chất mớiphủ định bản chất cũ gọi là biến dị.- Ví dụ: có một giống cây, trong quả của chúng có thường xuyên hạt, nhưng vì lý do nào đótrên cây xuất hiện những quả không hạt. Như vậy: bản chất không hạt đã phủ định bản chất cóhạt. Đem nhân những cành mang quả không hạt sẽ có khả năng tạo được giống mới – giống có quảkhông hạt.

1 .2.Sự phát triển cá thểTrong quá trình phát triển cá thể cây ăn quả nhận được từ hạt trải qua các giai đoạnkhác nhau hay là các thời kỳ khác nhau (I.V.Michurin).- Giai đoạn phôi thai: được bắt đầu bằng sự hợp nhất của tế bào sinh dục đực – cái vàhoàn thành bởi sự xuất hiện lá thật ở hạt đang mọc. Đặc điểm của nó là dễ nhạy cảm với sựthay đổi điều kiện môi trường.- Giai đoạn trưởng thành: bắt đầu từ khi ra lá thật đầu tiên đến khi ra quả ổn định. Thờigian dài ngắn tùy từng loại cây. Nó có đặc điểm là dễ thích nghi với môi trường xung quanh.

19- Giai đoạn cho sản lượng: có đặc điểm là kích thước tán và rễ đạt mức tối đa, ra quả

nhiều. Bản chất của nó ổn định ít bị thay đổi vì điều kiện môi trường.- Giai đoạn già cỗi và chết: có đặc điểm là không có thể thay đổi hình thái và bảnchất của cây, sinh trưởng kém và sản lượng hạn chế dần.1. 3. Lý thuyết sự già đi và trẻ hóa có tính chu kỳ của câyNội dung cơ bản của sự phát triển cá thể bao gồm sự đấu tranh và thống nhất của haiquá trình đối lập:sự già đi và trẻ hóa (N.P.Krenke).- Sự già đi là sự già toàn diện của cơ thể – sự thay đổi không thể đảo ngược hoặc thuậnnghịch từng bộ phận, được thể hiện bằng sự suy giảm tất cả các chức năng, dẫn tới sự già yếuvà chết một cách một cách tự nhiên của tế bào, cơ quan hay toàn cây nói chung. Sự già đi chính là sựhạn chế sút tiềm năng sống.- Sự trẻ hóa là sự cải thiện tạm thời có khả năng sống của những tế bào riêng biệt, mô, cơquan hoặc cơ thể nói chung, xảy ra dưới tác động của những quy trình sống hoặc điều kiệnsinh trưởng của cây. Sự trẻ hóa được biểu hiện trong việc tạo mới và phát triển của các cấutrúc non (mầm, cành bên) đồng thời cản trở sự già đi của những bộ phận hiện có.Mỗi cơ thể có năng lực ban đầu của có khả năng sống được thể hiện ở tuổi thọ trung bình.Ví dụ các loài cây khác nhau có tuổi thọ trung bình khác nhau. Có những loài cây tuổi thọ tớihàng trăm năm như hồng, vải, nhãn, xoài, mít, táo…; có các loại cây tuổi thọ tính hàng chụcnăm như bưởi, cam, quýt, ổi… và có những loài cây tuổi thọ tính hàng năm như chuối, dứa…Tuổi thọ trung bình của cơ thể (tiềm lực ban đầu) được quyết liệt đầu tiên bởi tìnhtrạng dinh dưỡng và tất cả sự trao đổi chất, chúng có khả năng thay đổi dưới tác động của điềukiện này hay khó khăn khác. Cho nên áp dụng các biện pháp kỹ thuật (cắt tỉa, bón phân, tướinước) có khả năng kiềm hãm hoặc xúc tiến quy trình già đi và trẻ hóa, kéo dài tuổi thọ của cây, tăngkích thước, ra quả….Sự già đi (già sinh học) không chỉ xảy ra toàn cây, mà còn xảy ra từ các cơ quan và tếbào riêng biệt. Mỗi sự phân chia mới của tế bào tạo ra sự trẻ hóa của nó, nhưng mỗi lần phânchia này không đầy đủ, cho nên tác giả N.P.Krenke đưa ra khái niệm về tuổi chung và tuổiriêng. Tuổi chung là tuổi của toàn cơ thể cây. Tuổi riêng là tuổi của từng bộ phận hoặc của câyđược tạo nên từ những bộ phận này trong nhân giống vô tính.Tuổi của cơ thể tính từ phôi hạt đến thời điểm Hiện tại gọi là tuổi chung. Còn tuổi riêngđược tính từ khi xuất hiện cơ quan hay bộ phận tạo thành cây hoàn chỉnh (trong nhân giốngvô tính) đến thời điểm hiện nay. Từ những cây này được nhân ra liên tục bằng phương pháp vôtính tạo ra dòng vô tính. Thường cây mẹ ban đầu gọi là cây đầu dòng.Khi nhân giống vô tính qua thường xuyên thế hệ (thường xuyên đời), những cây đời sau tuy tuổi riêngcòn ít nhưng chịu ảnh hưởng của tuổi chung (tuổi của cây mọc ban đầu) quá thường xuyên, theo quyluật già sinh học thì sức sống của thế hệ sau Giảm sút hơn thế hệ trước. Nếu nhân giống liêntục qua thường xuyên thế hệ làm tăng dần sự tích lũy các đột biến tự nhiên, đột biến dinh dưỡng, tăngđộ dị hợp tử, tích lũy gen có hại. Điều này sẽ làm hạn chế sức sống và thoái hóa giống kèm theocác hiện tượng không nhu cầu như dễ nhiễm bệnh đặc biệt là các bệnh virus vàMicoplasma.do đó để đảm bảo năng suất và phẩm chất của giống người ta tiến hành phục trángbằng cách nhân giống hữu tính (gieo hạt). Vì cây non mọc từ hạt không chỉ tuân theo quy

Mọi Người Xem :   Tính Chất Hóa Học Của Nước Và Bài Tập Vận Dụng

20luật phát triển đầy đủ nhất (vì chúng phát triển lại từ đầu) mà còn sạch virus, hoặc người ta cóthể dùng phương pháp vi ghép (giống ghép lấy từ mô tế bào đỉnh sinh trưởng của cây khôngcó mầm mống virus).Trong thực tế sản xuất nhân dân ta cũng đã đúc rút được kinh nghiệm theo quy luậtnày. Trong kỹ thuật nhân giống vô tính người ta thường lấy nguồn giống từ các cành phía trêntán cây vì ở đó có tuổi phát dục già có tính di truyền ổn định và cây giống sớm ra hoa, kết quả.Nếu nhân giống từ rễ hoặc những cành gần gốc cây thì sẽ cho cây giống chậm bói quả.- Ví dụ cây hồng được nhân từ rễ chậm ra hoa kết quả đến 3-4 năm so với cây hồngđược nhân từ cành ngoài tán bằng phương pháp ghép.Xuất phát từ đặc tính này đối với những cây già cỗi có khả năng đốn trẻ lại để kéo dài chu kỳkinh tế.1. 4.Các thời kỳ tuổi của đời sống cây ăn quảCăn cứ vào lý thuyết của N.P.Krenke, P.H. Sitt đã chia toàn bộ chu kỳ sống của câythân gỗ ra làm 3 thời kỳ chính và hai 2 thời kỳ quá độ và kỹ thuật ảnh hưởng phù hợp cho từngthời kỳ tuổi như sau:a) Thời kỳ sinh trưởng: từ nảy mầm của cành ghép (ở cây ghép) đến bắt đầu ra quả.b) Thời kỳ sinh trưởng và ra quả: Từ khi ra quả đầu tiên đến ra quả ổn định, còn gọi là

thời kỳ bước vào kết quả.c) Thời kỳ ra quả và sinh trưởng: từ bắt đầu ra quả ổn định đến khi đạt sản lượng caonhất, cây chuyển sang thời kỳ mang quả.d) Thời kỳ ra quả: Thời kỳ này cây cho sản lượng thường xuyên nhất và ổn định nhưng sinhtrưởng hạn chế sút.e) Thời kỳ ra quả và tàn lụi: Cây tiếp tục ra quả, cành nửa khung và cành nhánh chếtdần, ngọn cành khung khô và tán bị thu nhỏ lại, sản lượng Giảm. Tương quan giữa phần trênmặt đất và rễ bị phá vỡ, mầm rễ xuất hiện.

2. CÁC THỜI KỲ SINH TRƯỞNG VÀ NGỦ NGHỈ

Trong năm, thời kỳ hoạt động sống mạnh mẽ của cây ăn quả gọi là thời kỳ sinh trưởng,và nó được thay thế bằng thời kỳ ngủ nghỉ khi không thấy có dấu hiệu bề ngoài của hoạt độngsống. Đấy là sự thích nghi với khó khăn khí hậu lạnh mùa đông, rõ nhất là đối với những loại câyrụng lá mùa đông.Độ dài của các thời kỳ phụ thuộc tình trạng sinh lý của cây, tuổi cây, điều kiện thời tiếtvà kỹ thuật ảnh hưởng.Các thời kỳ này được thể hiện qua các pha vật hậu (còn gọi là thời kỳ vật hậu) là sựbiến đổi vật chất theo khó khăn thời tiết khí hậu – hiện tượng lặp lại hàng năm trong chu kỳphát triển của cây. Mỗi pha thể hiện các quá trình sinh vật xảy ra trong các cơ quan riêng biệtcủa cơ thể dưới ảnh hưởng của khó khăn ngoại cảnh nhất định.a) Thời kỳ sinh trưởngThời kỳ sinh trưởng phần trên mặt đất của cây được bắt đầu từ thời điểm nảy lộc đếnkết thúc rụng lá.

21Thời kỳ sinh trưởng gồm các pha nảy lộc, xòe lá, nở hoa, kết quả và quả chín. Để quatừng pha vật hậu cần có khó khăn nhất định đặc biệt là nhiệt độ – gọi là các ngưỡng nhiệt độcho từng pha, tùy thuộc vào từng loại cây.b) Thời kỳ ngủ nghỉ

có thể phân biệt làm hai dạng: ngủ sâu và ngủ sơ bộ (tạm thời).- Ngủ sâu: Sau khi rụng lá cây bước vào pha ngủ sâu, khi gặp khó khăn thuận lợi tạmthời (như nhiệt độ và ẩm độ cao) vẫn không bị vi phạm.Thời gian ngủ phụ thuộc khó khăn khí hậu, gốc ghép, giống và tuổi cây, trong đó rõnhất là khí hậu.- Ngủ sơ bộ: xảy ra vào cuối thời kỳ sinh trưởng của mầm và có thể bị vi phạm (kếtthúc đợt cành trước và chuẩn bị đợt cành sau). có thể sử dụng biện pháp kỹ thuật (như tăngcường dinh dưỡng đạm và nước) để rút ngắn thời gian ngủ, tăng nhiều đợt cành trong năm,tăng nhanh khối lượng sinh trưởng của cây, nhanh chóng đạt được sản lượng quả cao ngaynhững năm đầu mới cho quả.Ngay trong thời kỳ sinh trưởng người ta cũng nhận thấy có sự sinh trưởng và ngủ nghỉxen kẽ nhéu giữa phần trên mặt đất và phần dưới mặt đất. có thể ứng dụng quy luật này trongviệc trồng mới. Khi tán cây đâm chồi nảy lộc (sinh trưởng mạnh) thì bộ rễ ở trạng thái ngủnghỉ (sinh trưởng yếu). Vào lúc này nếu bứng cây đem trồng vào lúc phần trên mặt đất cócành lá ở trạng thái thành thục, ổn định thì bộ rễ ở trạng thái hoạt động (sinh trưởng mạnh) sẽcung cấp đầy đủ nước và dinh dưỡng cho tán cây đâm chồi nảy lộc nhénh chóng.

3. QUY LUẬT RA HOA KẾT QUẢ

3.1. Khái niệm và các học thuyết ra hoa đối với cây ăn quảa) Khái niệm về phân hóa hoa và ra hoaSự hình thành hoa là dấu hiệu cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng phát triển dinhdưỡng sang giai đoạn sinh trưởng phát triển sinh sản: chuyển hướng từ hình thành mầm lásang hình thành mầm hoa. Nó biểu hiện về phản ứng di truyền và trạng thái sinh lý nhất địnhkhi gặp khó khăn ngoại cảnh thích hợp. Sau khi cảm ứng sự ra hoa thì hoa được hình thành vàphân hóa.có thể chia quá trình hình thành hoa làm 3 giai đoạn:- Cảm ứng hình thành hoa: trong đó có sự cảm ứng nhiệt độ (gọi là xuân hóa) và cảmứng về ánh sáng (quang chu kỳ).- Sự hình thành mầm hoa.

– Sự sinh trưởng của hoa, sự phân hóa hoa, sự phân hóa nam hay nữ.b) Các học thuyết ra hoa* Thuyết cảm ứng nhiệt độCó những loài cây chỉ phân hóa hoa dưới ảnh hưởng của nhiệt độ thấp trong một thờigian nhất định. Người ta đã chứng minh được rằng: cơ quan tiếp nhận (cảm thụ) phản ứngnhiệt độ là đỉnh sinh trưởng của thân. Chỉ cần đỉnh sinh trưởng chịu tác động của nhiệt độ thấpcũng có khả năng gây nên sự phân hóa mầm hoa. Như vậy thì đối với sự cảm nhận quy trình xuânhóa cần có các tế bào đang phân chia của đỉnh sinh trưởng. Giới hạn tác động của nhiệt độ và

22thời gian tiếp xúc có hiệu quả thay đổi ngay tùy theo từng loại cây( từ 0 đến 150C là có hiệu quảxuân hóa).* Thuyết quang chu kỳ (sự cảm ứng ra hoa bởi ánh sáng)Độ dài chiếu sáng tới hạn trong ngày có tác dụng điều tiết sự sinh trưởng phát triển củacây, có khả năng kích thích hoặc ức chế các quá trình khác nhau và phụ thuộc vào các loài khácnhéu gọi là hiện tượng quang chu kỳ. Trên quan điểm này người ta phân thành 3 nhóm cây:ngày ngắn; ngày dài; trung tính.* Thuyết hormon ra hoaTheo Trailachyan cây muốn ra hoa được phải có tác nhân kích thích sự ra hoa(florigen).Florigen gồm 2 thành phần: Gibberellin (GA) kích thích sự sinh trưởng phát triển trụdưới hoa còn Antesin (hormon giả thiết) kích thích sự phát triển của hoa. Theo giả thiết đó thìđối với cây ngày ngắn (cây dứa chẳng hạn) Gibberellin được tạo nên cả trong ngày dài vàngày ngắn, còn Antesin chỉ tạo nên trong ngày ngắn. Vì vậy khi chiếu sáng dài nó không rahoa, chỉ sinh trưởng vươn cao. Ngược lại với cây ngày dài thì Antesin được hình thành cảtrong khó khăn ngày dài và ngày ngắn, còn Gibberellin chỉ được hình thành trong điều kiệnngày dài, nên trong khó khăn ngày ngắn thì thiếu Gibberellin nên không thể hình thành hoađược. Vậy ta có khả năng xử lý bổ sung Gibberellin thì cây hoàn toàn có thể ra hoa được. Như vậy

là học thuyết hormon ra hoa phần nào có khả năng giải thích được bản chất của phản ứng quang chukỳ và sự ra hoa của cây.* Thuyết C/Nmột vài ý kiến cho rằng tỷ lệ C/N có khả năng là yếu tố quan trọng quyết định quá trình phânhóa mầm hoa. Ví dụ trên cây xoài: ở các cành mang hoa tỷ lệ C/N cao hơn ở thời kỳ sau nởhoa. Người ta nghiên cứu trên 2 giống Deshehri và Langra thấy: quá trình phân hóa mầm hoaxảy ra khi tỷ lệ C/N cao và tỷ lệ này Giảm dần cùng với sự phát triển của chùm hoa. Theo GSVũ Công Hậu, tỷ lệ C/N thích hợp thì cây sinh trưởng phát triển cân đối, cây sẽ ra hoa bìnhthường. Nếu tỷ lệ này quá thấp thì cây không ra hoa.* Sự phân hóa nam hay nữ của hoaĐây là vấn đề rất phức tạp có quan hệ đến các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, đặc biệtliên quan đến hàm lượng phytohormon trong cây và các điều kiện ngoại cảnh.thường xuyên thí nghiệm xác định hoạt tính của Gibberellin và Cytokinin trong lá và trong rễđã nhận thấy hoạt tính Cytokinin trong cây cái cao hơn cây đực và ngược lại hoạt tính củaGibberellin trong cây đực cao hơn cây cái. Người ta đã chứng minh bằng cách nuôi cấy phôitách riêng trong ống nghiệm. Nếu môi trường chỉ có Gibberellin thì có 95,5 – 100% là hoađực, nếu chỉ cho Cytokinin thì 92,6 – 97,7% là hoa cái. Còn đối chứng không cho GA vàCytokinin thì tỷ lệ hoa đực và hoa cái xấp xỉ nhau.Ngoài GA và Cytokinin, các chất điều tiết sinh trưởng khác cũng ảnh hưởng quantrọng đến sự biểu hiện nam hay nữ, như Auxin phép gây ra nên sự cân bằng trong việc biểu hiện nam hay nữ,Ethylen tạo nên 100% hoa cái trên các cây họ bầu bí.Các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng quan trọng đến sự biểu hiện giới tính. Trongđiều kiện ngày ngắn, ánh sáng xanh, nhiệt độ thấp, lượng CO2cao, ẩm độ cao, thường xuyên nitơ… thì

23liên quan đến hình thành giới tính cái. Ngược lại, ngày dài, ánh sáng đỏ, nhiệt độ cao, lượngCO2

thấp, ẩm độ thấp, thường xuyên kali… liên quan đến tính đực.3.2. Đặc điểm ra hoa kết quảa) Thời gian bước vào kết quả của cây ăn quảThời gian bước vào kết quả của cây phụ thuộc vào phương pháp nhân giống, loài câykhác nhéu, thế sinh trưởng của gốc ghép và mối quan hệ giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinhtrưởng sinh thực.- Ở cây hữu tính bước vào kết quả muộn hơn cây vô tính. Điều này có quan hệ với sựphát triển giai đoạn. Theo I.V.Michuirin, cây hữu tính không có khả năng ra quả ở giai đoạnnon trẻ của sự phát triển, khi chúng còn chưa kinh qua biến đổi về chất xuất hiện trước khi rahoa, quả. Cây hữu tính bắt đầu phát triển từ phôi, đã kinh qua sự thay đổi này và thời gianchúng bước vào kết quả phụ thuộc vào sự tăng nhénh của bộ lá, bộ rễ tích lũy chất dinh dưỡngcần thiết đối với sự hình thành quả. Cho nên những loài và giống có bộ rễ và phần trên mặt đấtsinh trưởng nhanh bước vào kết quả sớm hơn. Ví dụ: cây dâu tây bắt đầu kết quả từ năm thứ1-2 và kết thúc năm thứ 10-15; mơ, mận bắt đầu kết quả năm thứ 3-6 và kết thúc năm thứ 20-30; táo ta bắt đầu kết quả năm thứ 2-3 và kết thúc năm thứ 40-50…- Gốc ghép cũng có ảnh hưởng đến sự ra hoa sớm hay muộn. Thường ở gốc ghép cóthế sinh trưởng mạnh thì cây ghép ra hoa muộn hơn.- Thời gian bắt đầu ra quả có thể được xúc tiến nhanh bằng cách phun các chất ức chếsinh trưởng, cắt tỉa cành, cắt khoanh vỏ thân cành, các biện pháp tác động cơ giới khác…b) Hiện tượng giao phấn và ra quả cách nămHoa sau khi nở được tiến hành thụ phấn thụ tinh. Sau khi thụ tinh từ mầm hạt hìnhthành hạt và từ tế bào trứng hình thành phôi hạt. Bầu nhụy và phần xung quanh phình lênthành quả.Ở nhiều loài và giống cây ăn quả, sự thụ tinh và kết quả chỉ xảy ra trong trường hợpnếu nhụy của giống này được thụ phấn bằng phấn của giống khác của cùng loài đó. Hiệntượng này gọi là giao phấn, các giống này gọi là giống giao phấn.Trong khi xây dựng vườn quả mà đặc biệt bằng giống giao phấn người ta cần trồng câythụ phấn.Ở nhiều loài cây ăn quả, thường xảy ra hiện tượng ra quả cách năm, bởi vì trong nhữngnăm đạt sản lượng cao sự sinh trưởng yếu đi, ảnh hưởng đến sự phân hóa mầm hoa cho vụ quảnăm sau. Ở ta có nhiều loại cây ăn quả ra quả cách năm như nhãn, vải, hồng, cam, quýt….Hiện tượng này có khả năng khắc phục được bằng các biện pháp:- Áp dụng kỹ thuật trồng trọt cao đảm bảo sự sinh trưởng của rễ kéo dài, phát triểnmạnh bộ lá, lợi dụng độ chiếu sáng tốt nhất.- Điều hòa kịp thời mối quan hệ giữa lá và quả (cắt tỉa, bẻ cành, uốn cành, phun hóachất..)- Trồng cây có kích thước bé (gốc ghép có sự sinh trưởng yếu). Giữa tán cây thoángtạo điều kiện cho lá quang hợp, giảm đi tiêu hao cho chất dinh dưỡng.- Lựa chọn và trồng những giống ra hoa kết quả điều hòa.c) Biện pháp tăng cường thụ phấn thụ tinh

24Trong khi xây dựng vườn cây ăn quả cần phải quan tâm đến tình hình thụ phấn thụ tinhcủa hoa. Bởi vì sự đậu quả phụ thuộc vào sự thụ phấn tốt hay xấu, mà sự thụ phấn lại phụthuộc vào 3 yếu tố là:- Đặc điểm ra hoa của từng loại cây.- Thời tiết lúc nở hoa.- Những nguyên nhân (môi giới) như ong, bướm ruồi…* Đặc điểm ra hoa của cây ăn quảPhần lớn những loại cây ăn quả có hoa lưỡng tính nhưng cũng có một vài loài có hoa đơntính như hồng, đu đủ, mận, mơ, táo tây, cam, quýt không hạt…Đối với các loài cây có hoa đơn tính cần tiến hành trồng cây thụ phấn với các tiêuchuẩn sau:- Cây thụ phấn phải cùng loài với cây trồng chính; có khả năng khác loài nhưng phải có khảnăng giao phấn cho nhéu như (bưởi, cam, quýt, chanh, Poncirus).- Cây thụ phấn phải sinh trưởng khỏe, thích hợp với khó khăn sinh thái nơi trồng câyăn quả, nguồn phấn dồi dào và có thời gian tung phấn trùng với thời gian chín của nhụy hoacủa giống chính.- Số lượng cây thụ phấn trong vườn quả thường xuyên hay ít tùy thuộc vào khả năng cung cấpphấn và có khả năng đóng góp của nó vào năng suất chung trong vườn quả. Thông thường cây

thụ phấn chiếm tỷ lệ 5 – 10% đến 50% và được bố trí trồng thành từng hàng xen kẽ hoặc rảirác đều đặn ở các hàng cây trồng chính.- Trong nghề trồng cây ăn quả cần trồng các dòng vô tính được nhân ra từ một cây đầudòng tốt và đã được tuyển chọn. Dòng này ít có thể tự thụ phấn hoặc tự thụ phấn từ phấnhoa của dòng đó cho quả chất lượng kém, do đó phải trồng xen những hàng cây của dòng vôtính khác gọi là dòng “cho phấn” đã được xác định.* Thời tiết và thụ phấn ở cây ăn quảThời tiết lý tưởng cho thụ phấn là: nắng, nhiệt độ và ẩm độ vừa phải, không có gió lớn- khó khăn để bao phấn dễ nở, nẩy mầm thuận lợi, côn trùng môi giới vận hành tốt, số lượnghạt phấn được mang đến bầu nhụy thường xuyên.* Môi giới giúp hoa thụ phấnthường xuyên dòng vô tính có hoa lưỡng tính được dùng càng lâu có khả năng không tự thụphấn đậu quả càng lớn, nên phải trồng xen những dòng cho phấn để giao phấn. do đó cần cónhững nguyên nhân mang phấn từ cây cho phấn đến cây nhận phấn. nguyên nhân đó là gió, côntrùng…Trong thực tế dù không phải là dòng vô tính, nhiều loài cây ăn quả cũng cần phải giaophấn như: hồng, xoài, mít, nhãn, vải, chôm chôm, mơ, mận… nên chúng cần có môi giớitruyền phấn.* Thụ phấn nhân tạoCó một vài loài cây thụ phấn điều kiện do ít phấn, hạt phấn kết dính, thiếu cây đực,thiếu môi giới truyền phấn như (mãng cầu xiêm, lạc tiên, đu đủ, mít, hồng…)Ví dụ: ở Đà Lạt (1971 -1972) các tác giả Hàn Quốc – Yung Kyung Choi và Yung HoKim đã thụ phấn bổ sung cho hồng bằng bình phun thuốc bột để phun phấn lên đầu vòi hoacái. Cách làm như sau: hái hoa đực khi hoa đã phồng lên và có màu vàng, đưa nhénh vào phơitrên giấy báo trong điều kiện nhiệt độ 20 – 25C sau 24h rũ hoa lấy phấn, cứ 100 hoa được



Các câu hỏi về cây ăn quả là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê cây ăn quả là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé

Related Posts

Tính chất của cạnh tranh là gì? 1

Tính chất của cạnh tranh là gì?

ContentsĐánh giá về cây ăn quả – Tài liệu textCác câu hỏi về cây ăn quả là gì Bài viết Tính chất của cạnh tranh là gì?…
Đơn chất là gì, Hợp chất là gì, đặc điểm cấu tạo? Khái niệm phân tử, phân tử khối - Hóa 8 bài 6 2

Đơn chất là gì, Hợp chất là gì, đặc điểm cấu tạo? Khái niệm phân tử, phân tử khối – Hóa 8 bài 6

ContentsĐánh giá về cây ăn quả – Tài liệu textCác câu hỏi về cây ăn quả là gì Bài viết Đơn chất là gì, Hợp chất là…
Chất là gì? Các loại chất? (Cập nhật 2022) 3

Chất là gì? Các loại chất? (Cập nhật 2022)

ContentsĐánh giá về cây ăn quả – Tài liệu textCác câu hỏi về cây ăn quả là gì Bài viết Chất là gì? Các loại chất? (Cập…
Chất tinh khiết là chất 4

Chất tinh khiết là chất

ContentsĐánh giá về cây ăn quả – Tài liệu textCác câu hỏi về cây ăn quả là gì Bài viết Chất tinh khiết là chất thuộc chủ…
Chất điểm là gì - Vật Lí lớp 10. 5

Chất điểm là gì – Vật Lí lớp 10.

ContentsĐánh giá về cây ăn quả – Tài liệu textCác câu hỏi về cây ăn quả là gì Bài viết Chất điểm là gì – Vật Lí…
Hành vi pháp lý đơn phương là gì? Sự khác biệt với hợp đồng? 6

Hành vi pháp lý đơn phương là gì? Sự khác biệt với hợp đồng?

ContentsĐánh giá về cây ăn quả – Tài liệu textCác câu hỏi về cây ăn quả là gì Bài viết Hành vi pháp lý đơn phương là…