CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text

Bài viết CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text thuộc chủ đề về Giải Đáp Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://buyer.com.vn/hoi-dap/ tìm hiểu CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text”

Đánh giá về CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text


Xem nhanh
Nhân văn trong tôi là gì ư?

Đối với tôi, có lẽ, Nhân văn là một điều gì đó vừa đặc biệt, vừa gần gũi. Nhân văn là những lúc cả lớp nhận được những cốc trà sữa mát lịm từ tay thầy giáo sau giờ học căng thẳng, là những đêm cùng mấy đứa tiểu quỷ trốn ngủ đi ăn vặt trên Hola, là cái ngày tôi tìm được một nửa của mình,...
Nhân văn là sẽ mãi là một phần thanh xuân của tôi và của tất cả các bạn!

Nguồn: CLB Truyền thông VUMCC

98Việt Nho. Ở đây cảm hứng yêu nước đặc biệt hướng về phía nhân dân, dân tộc. Nó gần gũi, một cách tự nhiên, không kinh điển, công thức…Từ những năm cuối thế kỷ XV, đặc điểm thơ của các nhà nho có sự thay đổi ngay. Thơ ca kém đi những hồn nhiên trong trẻo buổi đầu. Tuy có những bướctiến đáng kể về nghệ thuật, nhưng một số bài thơ trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” có sự ca tụng thiếu tự nhiên. Thơ ca có khi mang tính chất gượng ép:“Hết lòng uống máu vì nhà chúa” Bạch sắt- Con rận [52, 201]; “Hơm mai ninh nước vì nhà chúa” Thổ vu- Cái ấm đất [52, 204]; “Ơn chúa vun trồngnhững thuở nao” Tân lang- Cây cau [52, 205]… Đó là sự chuyển biến lớn lao của dòng thơ đi dần đến chính thống. cảm hứng thân dân phản ánh quanniệm tiến bộ của thơ Nho giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV. Đây cũng làmột đặc điểm quan trọng của thơ Nho.

2.3. CẢM HỨNG NHÂN VĂN

Nước ta vốn có nền văn hiến từ lâu đời. Từ một nước “văn hiến đứng đầu Trung châu, điển chương rạng cả triều đại” Lịch triều hiến chương loạichí [19, 07], văn học Việt Nam vốn giàu tinh thần nhân văn. cảm hứng nhân văn là một trong trong những cảm hứng chủ đạo của thơ Nho Việt Nam từgiữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV. khoái cảm chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốtcác tác phẩm thơ ca của dòng thơ. Nó gắn liền với tư tưởng Nho vốn đã được tiếp biến ít thường xuyên. Nó gây ảnh hưởng đến cảm xúc của người tiếp nhận bằng mộtphong cách riêng. khoái cảm chủ đạo “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khátvọng nhiệt thành” [49, 39]. khoái cảm chủ đạo có mặt và thâm nhập vào hầu hết các “ngõ ngách” những tác phẩm của thơ Nho.Khái niệm “Nhân văn” trước hết có thể hiểu như những tổng giá trị đẹp đẽ của con người. Tính nhân văn được sử dụng nhằm chỉ đến tổng giá trị tinh thần bền99vững của mọi sự sáng tạo nghệ thuật đạt đến trình độ cái đẹp. “Một tác phẩm văn học có tính nhân văn là tác phẩm thể hiện con người với những nét đẹpcủa nó, đặc biệt là những tổng giá trị tinh thần như trí tuệ, tâm hồn, tình cảm… Tác phẩm đó hướng đến khẳng định, đề cao vẻ đẹp của con người” [170, 05].cảm hứng nhân văn thể hiện trước hết ở khoái cảm yêu thương con người, lấy con người tiến đến tự do hạnh phúc làm trung tâm. Yêu con người, trân trọngnhững giá trị chân chính của con người bản thân nó đã là nhân văn. Tùy theo từng thời điểm lịch sử mà những tổng giá trị nhân văn tiêu biểu nàođó được đề cao, bổ sung cho giai đoạn trước. khoái cảm nhân văn trong thi ca cũng biến đổi theo từng giai đoạn văn học. Những tổng giá trị nhân văn được cơngnhận là: hòa bình, tơn trọng, trách nhiệm, hợp tác, tự do, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, tình u, khoan dung, đồn kết…khoái cảm nhân văn trong thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV có nguồn gốc từ truyền thống nhân văn Lý –Trần, truyền thống Văn họcdân gian và nổi bật là chịu ảnh hưởng của khơng khí văn hóa thời đại – chịu tác động Nho giáo. cảm hứng nhân văn trong thơ Nho là thích thú thẩm mỹđối với những giá trị nhân văn cổ điển mang màu sắc Nho giáo. Nó gắn liền những phạm trù mang tính mỹ học Nho giáo: văn, mỹ, trung hòa, cổ, hùng…Thơ Nho khơng chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Nhân văn thời Phục Hưng ở phương Tây mà chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi tư tưởng Nhân văn cổ điển Nhogiáo. Nho giáo về cơ bản là một học thuyết nhân văn thế tục, nhân văn chínhtrị. Xây dựng một chính quyền nhân đạo là nền tảng chính trị Nho giáo. “Ai cũng có một trái tim biết thương xót sự đau khổ của kẻ khác. Các đấng tiênvương sở hữu một trái tim biết thương xót như thế thể hiện ra trong một chính quyền nhân đạo. Với một trái tim biết thương xót, thi hành chính quyền nhânđạo thì việc cai trị một nước dễ như trở bàn tay” Nhân giai hữu bất nhẫn chi100tâm. Tiên vương hữu bất nhẫn chi tâm, tư hữu bất nhẫn nhân nhi chính hĩ. Dĩ bất nhẫn nhân chi tâm, hành bất nhẫn nhân chi chính, trị thiên hạ khả vận chichưởng thượng Mạnh Tử – Lương Huệ Vương, 6 [166]. Quan niệm này là niềm cổ vũ quan trọng đối với các nhà nho quân tử từ giữa thế kỷ XIV- giữathề kỷ XV. Xã hội lý tưởng mà Nho giáo hướng tới là tôn trọng lẫn nhéu, không thựchiện những điều mình khơng muốn với người khác trong xã hội. Những văn bản kinh điển của Nho giáo đã nói: “Người có chí và người có nhân chẳng vìlẽ bảo tồn sanh mạng mà làm hại đức nhân; hạng người ấy có khi phải tự mình qun sinh để giữ tròn đức nhân vậy” chí sĩ chân nhân vơ cầu sanh dĩhại nhân hữu sát thân dĩ thành nhân Luận ngữ- Vệ linh công, 8 [72, 242- 243]. Con người ở đây được xây dựng nâng cao và hòa nhập với chuẩn cáiđẹp nhân văn: “Người đáng yêu gọi là thiện. Có được cái thiện nơi bản thân gọi là tín. Có được cái thiện nơi bản thân một cách sung mãn là mỹ” Khảdục chi vị thiện. Hữu chư kỷ chi vị tín. Sung thực chi vị mỹ Mạnh Tử – Luy Lâu Thượng, 25 [166]. Nền văn hóa – xã hội Nho giáo và người nho sĩ giữathế kỷ XIV- giữa thế kỷ XV có thể cảm thơng được với những lý tưởng cao đẹp này.Hơn nữa, xã hội trong nền văn hóa Nho giáo cổ truyền là cố gắng hướng đến một xã hội nhân văn; nó được lễ, nhạc, thơ ca làm cho cân bằng hài hòa.Người nho sĩ vừa là trí thức vừa là “văn nhân” theo nghĩa tốt đẹp. Người nho sĩ ứng xử thích hợp, nếu hợp đạo lý tức là phản ánh tinh thần nhân văn trongmọi tình huống. Trong lĩnh vực thơ ca, ngơn ngữ thơ cũng là ngơn ngữ của lòng trắc ẩn, ngơn ngữ của trái tim.Tuy được tiếp biến, khúc xạ trong lòng văn hóa dân tộc nhưng về cơ bản thơ Nho giữa thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XV vẫn mang đậm ảnh hưởng Nhogiáo thời kỳ tích cực ban đầu, đậm chất nhân văn cổ truyền. nhiều tác phẩm101như thế được Phan Huy Chú xếp vào “Lịch triều hiến chương loại chí” như là tiêu biểu cho cái đẹp của chất nhân văn trong văn học qua các triều đại.Khi Chu Công – Khổng Tử ở Trung Quốc nói đến “tư văn” thì tổ tiên người Việt với cái “chất” mộc mạc bắt đầu đón phái đồn truyền giáo từ ẤnĐộ sang. Nói chung sự kết hợp đó tạo nên diện mạo ban đầu của văn hóa Việt, cái “văn” của văn hóa Việt. cái văn đó tiếp tục phát triển với trung tâmvăn hóa Phật giáo Luy Lâu. Thời Bắc thuộc có khả năng nói là giai đoạn “tiền tư văn”, cái văn cái chất củadân tộc đã có một trình độ nhất định và bản sắc riêng. Do nhiều tác nhân, cho đến nay tài liệu về giai đoạn này khơng còn nhiều nhưng rất cần thiết.Những nhà nho ở nước ta như Tinh Thiều thời Nam Bắc triều và những người Việt làm quan ở Trung Quốc như Trương Trọng, Lô Hồi, Khương ThầnDực, Khương Công Phụ, Khương Công Phục, Liêu Hữu Phương… là những nhà nho nổi tiếng đầu tiên. Thời Bắc thuộc thành tựu của Nho học chưa thường xuyên,dòng thơ Nho chưa hình thành. tuy nhiên vẫn có Liêu Hữu Phương, Liễu Tử Hậu Đời Đường được đánh giá là “thơ văn có điệu Đại Nhã” An Nam ChíLược [145, 121]. Những lớp nho sĩ tiên phong đã góp phần tạo nên truyền thống thơ Nho.trong lúc đó, những nhà nho khơng chun gốc Phật giáo trong hồn cảnh song hành Nho – Phật lại là những tác giả đầu tiên sử dụng thơ Nho đểxướng họa với người Trung Quốc. Nhật Nam Tăng, Vô Ngại Thượng nhân, Phụng Đình Pháp sư, Duy Giám Pháp sư…đã từng xướng họa với thi hàoTrương Tịch, Thẩm Thuyên Kỳ, Giả Đảo… hoặc giảng kinh cho vua Đường. Như vậy cái “văn” gồm văn nói, viết, giao lưu, ứng xử… của Đại Việtban đầu đã khác với tư văn của Trung Quốc. Càng về sau, ở Trung Quốc có hiện tượng thâm nhập mạnh mẽ của Pháp gia, Mưu lược gia vào tư tưởng Nhogia làm thay đổi ngay bản sắc tư văn thời Tiên Tần. Còn ở Đại Việt, cái “văn” có102đặc điểm nguồn gốc riêng, có bản sắc riêng, ít bị sự xâm nhập có khi đến cực đoan bởi Pháp gia và Mưu lược gia như ở Trung Quốc.Từ đó, cảm hứng về những giá trị nhân văn của người Việt cũng có bản sắc riêng, nó đã góp phần tạo nên tiềm thức văn hóa của dân tộc. Lê MạnhThát đã có thường xuyên phát hiện về văn minh dân tộc trước khi Việt Nho xây dựng nền tư văn ở nước ta.Từ thời Lý về sau, các thế hệ nhà nho nước Việt liên tục xây dựng những giá trị nhân văn Đại Việt trên nền Việt Nho, trong đó thường xuyên yếu tố Nho giáođược tiếp biến. Khái niệm “tư văn” 斯文 là một khái niệm khá quan trọng. “Hán Việt từ điển” Đào Duy Anh giải thích: “Tư văn là lễ nhạc, chế độ-đạo thống của thánh nhân ngày xưa” [02,333]. “Tổng tập Văn học Việt Nam” có giải thích: “tư văn: rút ý câu nói của Khổng Tử, trong sách LuậnNgữ nguyên chỉ lễ, nhạc, pháp độ, giáo hóa – người đời sau sử dụng từ này để chỉ người theo đạo Nho” [117, 378]. Quan niệm này được tác giả Phạm ĐứcDương giải thích: “Khổng Tử gọi Ngơ đạo đạo của mình là văn hay tư văn văn nay. do đó có thể hiểu tư văn là cái đạo của Nho giáo được chuyển đổidưới hình thức Văn văn dĩ tải đạo” [28, 5]. Từ đạo đến văn là mục đích mà nhiều nhà nho đã quan tâm, suy nghĩ.Nguyễn Trãi quan tâm nhiều đến vấn đề này. Ông đã lưu ý đến tư văn và xem đó là sứ mệnh cao cả, linh thiêng: “Thiên hoặc táng tư tri hữu mệnh”Trời có bỏ mất tư văn thì biết đó là mệnh Mạn thành – Ức Trai thi tập [123, 347]. Nguyễn Trãi cũng đề cập đến tư văn của dân tộc: “Thiên địa tư văntòng cổ thượng” Tư văn của trời đất từ xưa vẫn trọng Thu nhật ngẫu thành – Ức Trai thi tập [123, 342]. Bên cạnh Nguyễn Trãi, các nhà nho khác cũngxem tư văn như là mục đích cao đẹp cho hành động. Trình Thanh xem “tư văn” như là phương châm, khoái cảm và động lực phát triển cùa xã hội:“Thánh đạo tư văn thác giám hành” Có nhiệm vụ trọng đại làm gương sáng,103làm cán cân cho nền tư văn “Nguyên nhật thọ Úy Trai tiên sinh” [117, 378]. Những điều đó có khả năng nói chính là biểu hiện của cảm hứng nhân vănđơn sơ mộc mạc của lý tưởng nhân văn Nho giáo cổ điển. cảm hứng nhân văn ấy thấm nhuần trong luận đề, cụ thể, hình tượng thi ca thông qua việc đềcao các giá trị nhân văn: hòa bình, trân trọng con người, trung thực, khoan dung…Trước hết khoái cảm nhân văn biểu hiện ở những sáng tác trân trọng con người. Với quan điểm trọng dân, qua mệnh đề dân – nước, các nhà nho đã đềcao vai trò của người dân. Đó là những người dân thiếu thốn, đói rét trong thơ Nguyễn Phi Khanh, những người áo vải đã hy sinh để đánh đuổi giặc Minh,họ xứng đáng được trân trọng như ở các bài “Quân chu”, “Dân thủy” Nguyễn Mộng Tuân. Truyền thống “khoan sức dân” từ Trần Quốc Tuấn đếnNguyễn Trãi là một mạch liên tục. Cá tác giả Lê Thiếu Dĩnh, Nguyễn Phu Tiên đều ca ngợi hình tượng câytùng cao với vẻ đẹp và bản chất hữu ích nhưng bị rơi xuống vũng, xuống hồ để cho thần nước cuốn đi, hình thể xơ xác Họa Lê Trạch Thôn “trường tùngvi phong vũ sở chiết vận” [117, 343-344]. Tùng tiêu biểu cho vẻ đẹp cao quý theo chuẩn thẩm mỹ Nho gia, tượng trưng cho vẻ đẹp tính con người, vẻ đẹpcủa một nền văn hóa. Cây tùng ngã đổ cũng là bối cảnh đất nước bị tàn phá sau chiến tranh giành độc lập đầu thế kỷ XV.Trong trường hợp khác như ở bài “Mộ xn Diễn Châu tác”, Nguyễn Thiên Tích đã nói lên tâm sự một Gián Nghị đại phu thẳng thắn, bất mãn vìbọn cường thần chống lại chính sách thân dân. có khả năng bài này viết lúc ơng từ quan:“Tùng cúc tam niên sương mấn cải, Hải môn vạn lý khách tình xa”Ba năm gai gốc đầu pha bạc104Mn dặm đường trường bến vượt khơi Bản dịch Hoàng Việt thi văn tuyển [117, 365-366]Cũng giống như Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Trãi đề cao con người với quan điểm nhân văn sâu sắc. Quan điểm đó phản ánh trong chiến lược xâydựng văn hóa, trong cuộc sống và cả trong thơ văn ơng. Thơ Nguyễn Trãi kết tinh lòng yêu nước với tình yêu thương người dân “trên lửa hung tàn”, mởrộng lòng thương yêu sự sống “đức hiếu sinh” Bình Ngơ đại cáo. Nguyễn Trãi muốn để người dân được nghỉ ngơi: “Văn trị nên xây dựng thái bình”Quan duyệt thủy trận [123, 289]. Tinh thần nhân văn đã tác động lớn đến chiến lược xây dựng đất nước sau chiến tranh của Nguyễn Trãi.Tác giả còn trân trọng cái đẹp thiên nhiên, cái đẹp hài hòa đơn sơ. Với tình u thiên nhiên, hòa nhập cùng tạo vật, nhà thơ đã trân trọng đến từngcành mai, cành trúc: “Mai chăng bẻ, thương cành ngọcTrúc nhặt vun, tiếc cháu rồng” Thuật hứng, 5 – Nguyễn Trãi [123, 412]Tình yêu con người, yêu thiên nhiên đã làm cho tác giả trở nên chan hòa với cỏ cây, vạn vật.Các tác giả thơ Nho cũng rất trân trọng đến những hạnh phúc của con người khi viết về người cung nữ. Ở đây thơ Nho đặt cơ sở đầu tiên cho thànhtựu về sau ở “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều, “Long thành cầm giả ca” Nguyễn Du. Nguyễn Ức viết về tâm sự của hoa trà mi nở vào cuốixuân – đầu hạ, nghĩa là sau các loài hoa khác nở vào đầu xuân. Hoàn cảnh như thế giống với những người cung nữ tủi phận, chẳng biết xuân là gì:“Nhất sinh bất thức mai hoa diện Độc điến thiều quang tác hậu kỳ”Suốt đời chẳng biết mặt hoa mai là gì cả105Riêng mình đến muộn, lẽo đẽo theo sau bóng thiều quang Đồ mi [178, 26]Nỗi đau khổ, bế tắc của người cung nữ đã được tác giả thơ Nho đề cập. Các tác giả vừa cảm thơng vừa đồng thời gởi vào đó chút tâm sự riêng củamình. Lê Thiếu Dĩnh trong bài “Cung từ” Lời người cung nhân cũng thế: “Tàn hoa hoàn hướng lạc hoa khai” Hoa mới được nở ra, vì hoa cũ đã rơirụng [148, 226]. Tác giả cảm thông, vừa thương vừa tội cho người cung nữ “đem phấn son gượng điểm tô” thử tương chi phấn cưỡng an bài. Tâm sựcủa người cung nữ có khi cũng tương tự như nỗi lòng người trí thức cơ độc, bất lực. Hay có khi đó là tâm trạng của một quan chức bị triều đình phụ bạc,ghen ghét. Từ thương yêu con người, các nho sĩ nhìn đời sống nhân hậu hơn.Những nhà nho thế hệ này đã khao khát hòa bình và mơ ước được hưởng “một nền thái bình mn thuở” Bình Ngơ đại cáo. Bài “Tẩy binh vũphú”Nguyễn Mộng Tuân ca ngợi niềm vui sảng khoái của đất nước bình n: “Giang Ơn dịch” Nguyễn Trung Ngạn, “Hạ qui Lam Sơn” NguyễnTrãi cũng thế. Nguyễn Trãi đã viết: “Giáp tẩy cung nang lạc thái bình” Rửa áo giáp bỏ cung vào túi vui cuộc thái bình Hạ qui Lam Sơn, 2 – NguyễnTrãi [123, 291]. Niềm vui thái bình này là cảm hứng lớn của thơ văn thời đại. Thơ Nho cũng đề cao khát vọng tự do của con người. Đó là khát vọngvượt lên cái đời thường: “Viễn đệ phong vân động tráng hồi” Trơng ra cuộc gió mây, khiêu gợi sự nung nấu chí lớn Đăng Hồng Ân tự- NguyễnThiên Tích [148, 279]. Cũng vì thế, vơ tình nhà nho đơi khi tự đặt mình vào một ví trí cao hơn thói thường.và cạnh đó tư tưởng Lão Trang thường kết hợp với tư tưởng Nho giáo một cách rất tự nhiên, mật thiết trong cuộc sống, trong quan niệm mỹ học cũngnhư trong thơ văn. Sự kết hợp đó làm cho thơ Nho phong phú hơn nhưng106khơng mất đi bản chất. Có khi nhà nho mượn hình ảnh cá Cơn vốn có nguồn từ “Nam Hoa kinh” Tiêu diêu du để nói lên khát vọng cao xa của con người:“Đồ Nam chí dục phấn Trang Cơn” Ni chí cao xa như cá Cơn của họ Trang vượt biển Nam Tỵ loạn hoài hương- Lê Thiếu Dĩnh [117, 298]. Bêncạnh cá Côn, tác giả còn sử dụng hình ảnh chim Bằng: “Đồn phong vạn lý khối phi Bằng” Cưỡi gió vạn dặm như chim Bằng bay vút Tuần thị ChânĐăng châu – Phạm Sư Mạnh [178, 101]. Từ tầm cao đó, khoái cảm đưa con người đến tự do: “Tự khí tự lai hồn bất quả” Đi lại một mình, chẳng gì tróibuộc Giang đình tác – Chu An [178, 63]. cảm hứng tự do còn được tìm thấy ở “Đề nhạn thực đồ”: “Bích thủy đan sơn lạc tự do” Dỗn Hành [117,386]. Đó là những khoái cảm thú vị phản ánh một khía cạnh tâm hồn của nhà thơ nho đậm đà chất nhân văn.Với niềm tin vào đạo lý cao đẹp, vào những giá trị nhân văn, những chuẩn mực của cái thiện, cái đẹp, các tác giả đã đã tập trung xây dựng nhữngmẫu người nho sĩ tích cực trong thơ. Nhân vật trữ tình trong thơ là hình bóng của con người nhân văn cổ điển. Con người hiện lên dưới hình thức cái tơi trữtình dạt dào tinh thần nhân văn với niềm tuyệt đối vào cái thiện, vào vẻ đẹp lương tri, thiên lương…Chủ thể trữ tình trước hết là con người có tâm hồn trong sáng, luôn đối diện trực tiếp với những vẻ đẹp trong sáng của một cách tự nhiên: nhật, nguyệt, trúc,cúc, sen… “Trinh tâm khước ái Đơng ly cúc” Lòng trong trắng chỉ u hoa cúc ở giậu phía Đơng” Trùng dương tiền nhất nhật… – Nguyễn Ức [178,30]. Vẻ đẹp tâm hồn nhiều lần được thể hiện, đề cao trong thơ Nho. Qua những biến cố, tác giả cảm thấy niềm an ủi còn lại là tấm lòng son. Đó là bảnsắc của chủ thể trữ tình trong thơ Nho: “Mạc tiếu sinh nhéi đô tảo tậnNhất đan tâm ngoại cánh vơ dư”107Ngồi tấm lòng son đang giữ được Sinh nhéi buồn thấy chẳng còn chiTrạch thơn cố viên – Lê Thiếu Dĩnh Bản dịch Hoàng Việt thi văn tuyển [09, 413]Những nhà nho giữ trọng trách, vị thế xã hội cao nhưng đời sống rất giản dị, trong sạch. Ngôi nhà của họ cũng phản ánh nếp sống thanh bạch: “bốn váchxác xơ” tứ bích gia bần Hạ Thừa Chỉ Ức Trai tân cư – Mừng nhà mới của Thừa Chỉ Ức Trai Nguyễn Mộng Tuân [117, 239] càng làm nổi bật mộtnhân cách cao thượng. Thơ của của nhà nho cũng chứa đựng một tâm sự lớn. Đọc thơ TrầnNguyên Đán Nhâm Dần lục nguyệt tác, Đề Huyền Thiên quán, Bất mị, Ngẫu đề, thơ Phạm Nhữ Dực Tạ Nguyễn Vận Đồng huệ đái, 4, thơ Nguyễn ThiênTích Mộ xuân Diễn Châu tác… ta đều thấy trong đó ý thức hổ thẹn. Tự ý thức, tự hổ thẹn là tổng giá trị cao quí của con người trước sự xung đột giữa haimặt đối lập của thiện – ác. Ý thức trách nhiệm và tự ý thức là tiếng nói lương tri của con người trước thời cuộc.Từ việc tự hổ thẹn, tự phản tỉnh đến “uất hận”- tự hành động là một mạch tiếp nối. Những điều đó vẫn còn mãi âm vang trong sáng tác của NguyễnBiểu, Trần Q Khống, Sư chùa Yên Quốc, Đặng Dung, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh…Tác giả Trần Ngọc Vương có đề cập vấn đề “Giới hạn của nội dung nhân đạo chủ nghĩa trong văn chương Nho giáo” [184, 121-133]. Ta không thể phủnhận một số giới hạn nhưng khoái cảm nhân văn trong thơ Nho đã góp phần khơng nhỏ trong việc xây dựng một nền thơ dân tộc giàu tinh thần nhân đạo,nhân văn…108

Mọi Người Xem :   Tái bảo hiểm là gì? Các hình thức tái bảo hiểm hiện nay

2.4. CẢM HỨNG ĐẠO LÝ



Các câu hỏi về cảm hứng nhân văn là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê cảm hứng nhân văn là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết cảm hứng nhân văn là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết cảm hứng nhân văn là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết cảm hứng nhân văn là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về cảm hứng nhân văn là gì


Các hình ảnh về cảm hứng nhân văn là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu thêm tin tức về cảm hứng nhân văn là gì tại WikiPedia

Bạn hãy xem thông tin về cảm hứng nhân văn là gì từ web Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

🏠 Quay lại trang chủ

Các bài viết liên quan đến

Mọi Người Xem :   Quả sung: Loại quả có tác dụng chữa bệnh ít ai biết tới

Related Posts

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng. 1

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng.

ContentsĐánh giá về CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text2.3. CẢM HỨNG NHÂN VĂN2.4. CẢM HỨNG ĐẠO LÝCác câu hỏi về cảm hứng nhân văn là…
Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống 2

Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text2.3. CẢM HỨNG NHÂN VĂN2.4. CẢM HỨNG ĐẠO LÝCác câu hỏi về cảm hứng nhân văn là…
Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống 3

Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text2.3. CẢM HỨNG NHÂN VĂN2.4. CẢM HỨNG ĐẠO LÝCác câu hỏi về cảm hứng nhân văn là…
CH3Cl - metyl clorua - Chất hoá học 4

CH3Cl – metyl clorua – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text2.3. CẢM HỨNG NHÂN VĂN2.4. CẢM HỨNG ĐẠO LÝCác câu hỏi về cảm hứng nhân văn là…
I2 - Iot - Chất hoá học 5

I2 – Iot – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text2.3. CẢM HỨNG NHÂN VĂN2.4. CẢM HỨNG ĐẠO LÝCác câu hỏi về cảm hứng nhân văn là…
7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt 6

7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt

ContentsĐánh giá về CẢM HỨNG NHÂN VĂN – Tài liệu text2.3. CẢM HỨNG NHÂN VĂN2.4. CẢM HỨNG ĐẠO LÝCác câu hỏi về cảm hứng nhân văn là…