Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn

Bài viết Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Buyer.Com.Vn tìm hiểu Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn”

Đánh giá về Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn


Xem nhanh
Đạo đức là nhân cách con người
Hãy ghe xem kênh TA LÀ AI để tìm hiểu cụ thể hơn về vấn đề này.
Cùng khám phá bản chất cuộc đời. TA LÀ AI.
https://www.youtube.com/channel/UC522...

(Last Updated On: 22/11/2021)
Mục lục
  • 1. Khái niệm đạo đức
  • 2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức:
    • a/ Nguồn gốc của đạo đức.
    • b/ Bản chất đạo đức.
  • 3. Sự bao quát các ngoài ra nhéu của hiện tượng đạo đức
    • a/ Quan hệ đạo đức:
    • b/ Ý thức đạo đức:
    • c/ vận hành đạo đức:
  • 4. Chức năng của đạo đức
    • a/ Chức năng giáo dục
    • b/ Chức năng nhận thức (còn gọi là chức năng đánh giá).
    • c/ Chức năng điều chỉnh hành vi
  • 5. Cấu trúc của đạo đức
    • a. Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức.
    • b. Quan hệ đạo đức.
    • c. Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.

1. Khái niệm đạo đức

Đạo đức là gì?

Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại.

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) – lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là đề cập đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau mỗi ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học.

Ở phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong số những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của một cách tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội.

Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức sử dụng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy có khả năng nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.

Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhéu và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

Trong định nghĩa này có mấy điểm cần chú ý sau:

Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực cuộc sống đạo đức xã hội.

Xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người,…chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức.

Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã vận hành, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất rất cần thiết cho đời sống. Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và ảnh hưởng riêng biệt đối với cuộc sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người. Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng. Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan vị trí này thay đổi ngay theo cơ sở đã đẻ ra nó. Ví dụ: Thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô. Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người làm công nhân làm thuê là đạo đức tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột. Như vậy, sự nảy sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quy trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết liệt.

Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người: Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức…Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều đặn được đánh giá như vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận. Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn khép hành vi) là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành mong muốn, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.

Mọi Người Xem :   Phiếu An Toàn Hóa Chất MSDS là gì? Mẫu MSDS mới nhất 2022

Đạo đức là một hệ thống các tổng giá trị.

giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị học phân loại các hiện tượng tổng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các tổng giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu sử dụng, các tổng giá trị xã hội – chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo)(1). Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt.

Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một cách thức chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó bài tỏ sự tán thành hay không đồng ý trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định. Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp lệ thống trị xã hội. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống tổng giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.

2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức:

a/ Nguồn gốc của đạo đức.

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ trong tồn tại xã hội, từ những quan hệ của con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với nhau trong cuộc sống

– Đạo đức là hệ thống những quan điểm, quan niệm, những nguyên tắc, chuẩn mực, những tổng giá trị của xã hội nên đạo đức thuộc lĩnh vực tinh thần của cuộc sống xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội. Đạo đức ra đời và phát triển là do nhu cầu phải điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động chung của con người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Quan hệ đạo đức biểu hiện quan hệ của con người trước tiên là quan hệ trong sản xuất Cơ sở kinh tế của xã hội như thế nào thì ý thức đạo đức của xã hội như thế ấy. Khi cuộc sống vật chất của xã hộï biến đổi, xã hội ngày càng tiến bộ thì những quan niệm đạo đức, những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức cũng biến đổi theo và ngày càng được hoàn thiện. Do vậy đạo đức là hiện tượng có tính lịch sử xã hội. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, ở mỗi giai cấp khác nhau thì có các quan điểm khác nhéu về cái tốt, cái xấu; cái thiện, cái ác, hạnh phúc và bất hạnh ; về lương tâm và vô lương tâm cũng như về nghĩa vụ, trách nhiệm .v.v. Trong lịch sử, có đạo đức của xã hội nguyên thủy, của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức của xã hội phong kiến, đạo đức của xã hội tư bản chủ nghĩa và đạo đức của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

– Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì đạo đức cũng có tính giai cấp, nghĩa là tùy thuộc vào vị trí xã hội, vị thế xã hội xã hội và lợi ích giai cấp khác nhau mà các quan điểm về đạo đức cũng khác nhau. Đạo đức của giai cấp bóc lột thường đối lập với đạo đức của quảng đại quần chúng lao động và toàn xã hội.

– Đạo đức cũng có tính kế thừa. Lênin nói rằng tính kế thừa của đạo đức phản ánh “ những luật lệ dễ dàng và cơ bản của bất kỳ cộng đồng người nào”. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội vv. và biểu dương cái Thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn…

– Trong xã hội không có giai cấp hoặc không có đối kháng giai cấp thì đạo đức xã hội phù hợp với đạo đức cá nhân. Xã hội đó sẽ có được một nền đạo đức thật sự nhân đạo, vượt lên trên mọi sự đối lập về giai cấp. Đó là trình độ của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa.

b/ Bản chất đạo đức.

Đặc trưng của đạo đức là tiềm lực ý thức và hành động tự nguyện, tự giác của con người vì cái Thiện.

– Lẽ tất nhiên của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người đòi hỏi con người sống trong cộng đồng phải biết tuân thủ những nguyên tắc và những chuẩn mực do xã hội đề ra để điều chỉnh quan hệ của mình. Có thường xuyên loại chuẩn mực xã hội, trong đó những nguyên tắc chuẩn mực được thực hiện một cách tự giác nhằm điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác và với xã hội vì hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội được gọi là những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức

– hoạt động đạo đức của con người là vận hành bao gồm ý thức và hành vi vì cái Thiện. Đồng thời hoạt động đạo đức là hoạt động có tính tự giác và tự nguyện. Tự nguyện, tự giác là nét đặc trưng cho xã hội loài người. Tự giác ở đây có nghĩa là hiểu rõ công việc của mình có ích cho xã hội và sự khao khát được hành động vì lợi ích đó. Tự nguyện là thực hiện hành động không vì sự yêu cầu từ bên ngoài mà do sự tự giác của chủ thể. Con vật với vận hành sống bản năng không thể có được tính xã hội và tính tự giác của con người. Tự nguyện và tự giác quan hệ chặt chẽ nhau tạo thành một trong số những cơ sở của tự do của con người. Ý thức đạo đức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng, v.v…có tính tự nguyện và tự giác cao đem lại cho con người tiềm lực tự chủ , từ đó hành động một cách tự do. Đó là sức mạnh hữu hiệu của đạo đức.

– Mục đích cao cả nhất của con người và xã hội là được tự do và hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó con người không ngừng phấn đấu một cách tự nguyện tự giác vì lợi ích của người khác và lợi ích của xã hội. mặt khác hạnh phúc còn đòi hỏi có sự hài hoà lợi ích giữa cá nhân và lợi ích của cộng đồng. Vì lẽ đó mà thước đo của đạo đức ( tiêu chuẩn tổng giá trị của đạo đức) là tất cả những gì tích cực phù hợp với lợi ích chân chính của con người và tiến bộ xã hội. Nói một cách khác tiêu chuẩn của đạo đức là cái thiện, đối lập với cái thiện là cái ác. Như vậy có thể định nghĩa một cách khái quát về đạo đức như sau:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là sự tổng hợp những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội.

3. Sự bao quát các ngoài ra nhau của hiện tượng đạo đức

Nhìn một cách toàn diện, ở góc độ triết học, đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội; ở góc độ xã hội học, đạo đức là một loại quan hệ xã hội; ở góc độ tâm lý học, đạo đức là một loại vận hành xã hội. Đạo đức học hiện đại hiểu và sử dụng khái niệm đạo đức theo cả 3 góc độ triết học, xã hội học và tâm lý học nói trên. Như vậy đạo đức là một hiện tượng gồm 3 mặt: quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức và hoạt động đạo đức.

a/ Quan hệ đạo đức:

Quan hệ đạo đức là một loại quan hệ xã hội đặc biệt gồm các đặc điểm sau:

  • Đó là quan hệ giữa 2 chủ thể về lợi ích và nghĩa vụ đối với nhau cho nên quan hệ đạo đức có tính khách quan. mặt khác quan hệ đạo đức còn chứa đựng nhận thức và thái độ chủ quan của mỗi chủ thể. vì vậy, quan hệ đạo đức cũng có tính chủ quan.
  • Quan hệ đạo đức được thực hiện một cách tự giác, tự nguyện.

✅ Mọi người cũng xem : phương pháp nhân giống vô tính là gì

b/ Ý thức đạo đức:

Ý thức đạo đức bao gồm tình cảm đạo đức, lý trí đạo đức và ý chí đạo đức.

Mọi Người Xem :   Sửa tủ lạnh Hitachi chính hãng TPHCM | Trung tâm bảo hành Hitachi tại TPHCM | Tổng đài CSKH 028.2248.8224 - Hitachi Center

– Tình cảm đạo đức: là những tình cảm làm động cơ cho hành vi đạo đức như tình cảm nghĩa vụ, lòng tự trọng, tình cảm gia đình, tình bạn, tình yêu, lòng yêu nước… Mọi cảm xúc của con người sinh ra trong quan hệ đạo đức cũng là những biểu hiện của tình cảm đạo đức. Ví dụ: sự cảm động, sự thông cảm, sự vui sướng, sự hối hận… Trái lại, sự dửng dưng, lạnh nhạt, thờ ơ… là tình trạng thiếu tình cảm đạo đức của chủ thể.

– Lý trí đạo đức: là toàn bộ những nguyên tắc, chuẩn mực và những quy tắc do xã hội đề ra và được từng cá nhân tiếp thu, từ đó định hướng cho tình cảm và hành vi đạo đức của mình một cách đúng đắn. Những nguyên tắc đạo đức là bắt buộc cơ bản, khái quát nhất. Mỗi nguyên tắc đó sẽ được cụ thể hóa ra thành những chuẩn mực cụ thể hơn. Mỗi chuẩn mực lại được chi tiết hóa thành những quy tắc khác nhau. Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đều chứa đựng những tổng giá trị đạo đức được xã hội thừa nhận.

– Ý chí đạo đức: Là tiềm lực xác định mục đích cho hành động và hướng hành động của mình khắc phục những khó khăn nhằm đạt mục đích đó; là sự thống nhất cao độ của lý trí và tình cảm đạo đức. Nó thể hiện niềm tin và sự quyết tâm cho nên nó là yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua mọi thử thách của hoàn cảnh để giữ gìn nhân phẩm và danh dự của mình.

✅ Mọi người cũng xem : tủ vi khí hậu là gì

c/ vận hành đạo đức:

vận hành đạo đức là vận hành được đánh giá về mặt đạo đức và được biểu hiện cụ thể bằng những hành vi đạo đức.

– Hành vi đạo đức bao gồm 2 mặt cơ bản:

  • Mặt thứ nhất (về mặt chủ quan): Đó là động cơ của hành vi. Động cơ của hành vi là tác nhân bên trong thúc đẩy chủ thể hành động để thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Động cơ bao gồm nhiều loại: lợi ích, sở thích, tình cảm, lý tưởng và thường xuyên hiện tượng tâm lý khác. Động cơ của hành vi là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hành vi đạo đức.
  • Mặt thứ hai (về ngoài rah quan): hành vi đó tạo ra một kết quả có lợi cho cuộc sống và sự phát triển của một chủ thể khác (cá nhân, tập thể hoặc xã hội).

– Đánh giá hành vi về mặt đạo đức là sự thẩm định gía trị đạo đức của hành vi dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Đánh giá một hành vi đạo đức bao gồm sự đánh giá kết quả hành vi (tức là đánh giá yếu tố khách quan ) và đánh giá cả động cơ của hành vi ( tức là yếu tố chủ quan ), trong đó động cơ của hành vi được xem là tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu.

Hành vi đạo đức là hành vi được quyết liệt bởi động cơ làm việc vì lợi ích của người khác và xã hội một cách vô tư, bởi sự đồng cảm và lòng nhân đạo. Đồng thời động cơ đạo đức có tính tự giác, tự nguyện.

Sự đánh giá động cơ của hành vi phức tạp hơn nhiều so với sự đánh giá kết quả của hành vi. Động cơ hành vi thường bị ẩn kín, thường không biểu hiện ra một cách thực tại và trực quan, phải nhờ vào vận hành của lý trí mới nhận ra được. Nhưng chúng ta chẳng có cách nào khác hơn là căn cứ vào việc làm cụ thể của con người để hiểu động cơ của họ. Bởi vì những ý định, những động cơ bên trong không tồn tại một cách cô lập với cái khách quan bên ngoài; tác nhân biểu hiện ở kết quả; bản chất và hiện tượng vừa mâu thuẫn vừa thống nhất nhéu. V.I.Lênin đã đưa ra lời giải đáp rõ ràng về vấn đề này: Chúng ta sẽ phán đoán về “những ý đồ và tình cảm” của những cá nhân căn cứ vào những dấu hiệu nào? Rõ ràng là chỉ có một dấu hiệu thôi- những hành động của những cá nhân ấy.

4. Chức năng của đạo đức

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ trong tồn tại xã hội cùng lúc ấy nó cũng tác động trở lại đối với sự phát triển của tồn tại xã hội. Nó góp phần quan trọng vào việc xây dựng mối quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội. Đạo đức giáo dục con người, giúp họ nhận thức và điều chỉnh suy nghĩ, hành động phù hợp với những bắt buộc xã hội. Đạo đức có những chức năng cơ bản sau đây:

a/ Chức năng giáo dục

– Đạo đức có tác dụng hình thành ở con người những quan điểm về bản chất của đạo đức, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức; nhờ đó con người hiểu được điều gì nên làm, điều gì nhớ đừng nên làm.

– Thông qua vận hành đạo đức của bản thân, mỗi người tự mình càng hiểu rõ hơn vai trò to lớn của lương tâm, của danh dự và các phẩm chất đạo đức của cá nhân đối với sự tiến bộ của chính mình và sự tiến bộ của cộng đồng. Đó là những bài học đạo đức mà chủ thể tự rút ra được nên chúng có tổng giá trị sâu sắc và lâu bền. Trên cơ sở đó, chủ thể đạo đức càng tin tưởng và tích cực làm điều thiện.

– Những tấm gương đạo đức cao cả cùng với những giá trị của nó có sức rung cảm mạnh mẽ làm thức tỉnh những tình cảm đạo đức trong tâm hồn con người, có sức lôi cuốn, thôi thúc con người học tập, rèn luyện vươn tới cái tốt đẹp, cái thiện. Thực tiễn đấu tranh cách mạng cho thấy rằng những người cộng sản là những người sáng tạo nên những giá trị đạo đức cao cả. Đó là tinh thần chiến đấu dũng cảm, sự hy sinh quên mình… vì tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Những tấm gương ấy có sức thuyết phục và cổ vũ con người học tập, tu dưỡng để xứng đáng hơn nữa và phục vụ bắt buộc ngày càng cao của công cuộc xây dựng xã hội mới.

Bác Hồ đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức là cái gốc của cán bộ, đảng viên. Noi gương của Người, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã lao động, chiến đấu quên mình, sẵn sàng hy sinh, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì lý tưởng cao đẹp của con người.

Như vậy, đạo đức không chỉ giáo dục con người mà còn giúp con người nâng cao tiềm lực tự giáo dục mình. do đó, công tác giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển nhân cách con người mới

b/ Chức năng nhận thức (còn gọi là chức năng đánh giá).

Các quan điểm, tư tưởng đạo đức là kết quả của sự phản ánh đời sống xã hội, đồng thời chúng còn là công cụ giúp con người nhận thức về xã hội. Chức năng nhận thức của đạo đức thường ảnh hưởng theo hai chiều hướng:

  • Hướng thứ nhất: Những quan điểm đạo đức tiến bộ, khoa học giúp con người nhận thức, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức trong đời sống ; giúp con người đánh giá đúng cái gì là thiện, cái gì là ác; cũng như tự đánh giá một cách đúng đắn những suy nghĩ, hành vi của bản thân mình. Trên cơ sở đó con người định hướng một cách đúng đắn hành vi của mình trong thực tiễn. Đồng thời thực tiễn đạo đức của nhân dân lao động trong quy trình xây dựng xã hội mới có tác dụng nâng cao trình độ nhận thức và tiềm lực đánh giá đạo đức ở mỗi người ngày càng chính xác và sâu sắc hơn.
  • Hướng thứ hai: Ngược lại, những quan điểm sai lầm về đạo đức không chỉ làm cho hành động của con người dễ phạm sai lầm mà còn làm cho họ thất vọng, mất niềm tin vào đời sống và nhất định sẽ dẫn tới mức hạn chế sút ý chí tương đương năng lực nhận thức và hành động.

c/ Chức năng điều chỉnh hành vi

– Trong xã hội, cần có các quy tắc, chuẩn mực nhằm kết hợp bằng cách này hay cách khác lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Cho nên điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội là một bắt buộc khách quan. Có nhiều quy tắc, chuẩn mực để đều đặn chỉnh hành vi của con người: của pháp luật, của tôn giáo, của phong tục tập quán và của đạo đức.

Mọi Người Xem :   Bướm Trắng Bay Vào Nhà Điềm Gì ❤️️ Giải Mã Điềm Báo

Điều chỉnh hành vi bằng đạo đức có đặc điểm là tự điều chỉnh. Sức mạnh điều chỉnh hành vi bằng đạo đức là sức mạnh của lương tâm, sức mạnh của dư luận xã hội. Nhờ nắm được những quan điểm đạo đức tiến bộ, hiểu rõ vai trò của đạo đức, các chủ thể đạo đức luôn tự định hướng vận hành của mình vào lợi ích chung, trên cơ sở đó mà họ cũng được thỏa mãn những mong muốn đạo đức và những lợi ích chính đáng của mình. Để cho sự điều chỉnh có hiệu quả thì mỗi người không chỉ điều chỉnh từ trong tình cảm và nhận thức mà điều quan trọng hơn là biến những nhu cầu tốt đẹp thành vận hành thực tiễn. Trong cuộc sống, nhờ những mối quan hệ đạo đức được thiết lập mà con người hiểu rõ mình, hiểu sâu sắc thêm những giá trị đạo đức.

Chức năng giáo dục, chức năng nhận thức và chức năng. điều chỉnh của đạo đức gắn bó mật thiết với nhéu. ĐĐ hình thành ở con người năng lực nhân thức, đánh giá đúng đâu là thiện, đâu là ác. Trên cơ sở đó cải thiện năng lực tự giáo dục, biết được nghĩa vụ đạo đức của mình và tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì cái thiện. Do vậy giáo dục đạo đức không những có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách mà còn góp phần ổn định và phát triển xã hội.

✅ Mọi người cũng xem : sơ đồ mạch điện là gì lớp 7

5. Cấu trúc của đạo đức

Đạo đức vận hành như là một hệ thống tương đối độc lập của xã hội. Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức. Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ. Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định. Chẳng hạn: xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nếu xét nó trong mối quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức. Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến cái đặc thù với cái đơn chất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.

✅ Mọi người cũng xem : khoai nước là gì

a. Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức.

Đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và những quan hệ đạo đức đang tồn tại. mặt khác, nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức con người.

Trong quan hệ giữa người và người về mặt đạo đức đều đặn có những ranh giới của hành vi và giá trị đạo đức. Đó là ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và tinh thần tập thể. Về mặt tổng giá trị của hành vi đạo đức cũng có ranh giới: lao động là hành vi thiện. Ăn bám bóc lột là vô nhân đạo. Ngay cả trong một hành vi thiện mức độ giá trị của nó không phải lúc nào cũng ngang nhéu, mà có những thang bậc nhất định (cao cả, tốt, được). Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những qui tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức. Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức của con người. Tóm lại, ý thức đạo đức (về mặt cấu trúc) gồm tri thức đạo đức.

Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do tác động của niềm tin, ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong đời sống.

Ý thức và thực tiễn đạo đức luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử. Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động thì mới mang lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác. Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt tới giá trị, sẽ rơi vào trừu tượng theo kiểu các giáo lý của tôn giáo.

Thực tiễn đạo đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp, hành động nghĩa vụ…Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được sinh ra trên cơ sở của ý thức đạo đức.

b. Quan hệ đạo đức.

Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức.

Quan hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tín hiệu thực của bản chất xã hội của con người.

Các quan hệ đạo đức không những hình thành nên giữa các cá nhân, mà còn giữa cá nhân với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội (chẳng hạn: với lao động, với văn hoá tinh thần) trong chừng mực những mặt này liên quan đến các lợi ích chứa đựng trong các mối quan hệ này.

Quan hệ đạo đức được hình thành và phát triển như những qui luật tất yếu của xã hội, nó xác định những mong muốn khách quan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hội.

Quan hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn luôn biến đổi qua các thời đại lịch sử và chính nó là một trong nhữg cơ sở để hình thành nên ý thức đạo đức.

Tóm lại, ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là một yếu tố tạo nên cấu trúc đạo đức. Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập, mà liên hệ ảnh hưởng nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức.

c. Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.

Đạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định, và là phương thức điều chỉnh hành vi của các cá nhân thuộc cộng đồng nhằm hình thành; phát triển hoàn thiện tồn tại xã hội ấy.

Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và vận hành của cá nhân thuộc cộng đồng. Nó tồn tại như là một hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính phổ biến của đời sống đạo đức của cộng đồng.

Đạo đức cá nhân là đạo đức của những cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ảnh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng lẻ của tồn tại xã hội của cộng đồng về lợi ích và hoạt động của các cá nhân.

Trong vận hành thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhân thu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lí tưởng, chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân…

Trước mắt cá nhân đạo đức xã hội tồn tại một cách khách quan mà trong đời sống của mình, cá nhân tất yếu phải nhận thức, tiếp thu và thực hiện.

Đạo đức xã hội hay đạo đức cá nhân là sự thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cái thường nhật, cái đặc thù và cái đơn nhất. Đạo đức cá nhân là sự biểu hiện độc đáo của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết thảy mọi nội dung, đặc điểm của đạo đức xã hội. Mỗi cá nhân tiếp thu lĩnh hội đạo đức xã hội khác nhéu và gây ảnh hưởng đạo đức xã hội cũng khác nhéu. Đạo đức xã hội không thể là số cộng của đạo đức cá nhân mà nó tổng hợp những mong muốn thường nhật được đúc kết thành những tinh hoa của đạo đức cá nhân. Nó trở thành cái chung của một giai cấp, một cộng đồng xã hội, một thời đại nhất định, nó được duy trì và cũng cố bằng những phong tục, tập quán, truyền thống, những di sản văn hóa vật chất và tinh thần, được biến đổi phát triển thông qua vận hành sản xuất tinh thần và giao tiếp xã hội.

Quan hệ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là quan hệ giữa những chuẩn mực chung mang tính phát triển đặc thù trong từng xã hội với những phẩm chất hành vi những bắt buộc cụ thể mỗi ngày, quan hệ giữa lý tưởng xã hội và hiện thực của cá nhân, giữa trí tuệ, tri thức xã hội với tình cảm, ý chí và tiềm lực hoạt động đạo đức cụ thể của cá nhân.

Bài viết trước


Các câu hỏi về bản chất đạo đức là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê bản chất đạo đức là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết bản chất đạo đức là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết bản chất đạo đức là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết bản chất đạo đức là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về bản chất đạo đức là gì


Các hình ảnh về bản chất đạo đức là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tìm thêm báo cáo về bản chất đạo đức là gì tại WikiPedia

Bạn có thể tham khảo thêm nội dung chi tiết về bản chất đạo đức là gì từ trang Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://buyer.com.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://buyer.com.vn/hoi-dap/

Related Posts

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng. 1

Tính chất hóa học của Bari (Ba) | Tính chất vật lí, nhận biết, điều chế, ứng dụng.

ContentsĐánh giá về Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn1. Khái niệm đạo đức2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức:a/ Nguồn…
Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống 2

Sorbitol là gì? Tác dụng của sorbitol C6H14O6 trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn1. Khái niệm đạo đức2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức:a/ Nguồn…
Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống 3

Bạc là gì? Những ứng dụng của bạc trong cuộc sống

ContentsĐánh giá về Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn1. Khái niệm đạo đức2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức:a/ Nguồn…
CH3Cl - metyl clorua - Chất hoá học 4

CH3Cl – metyl clorua – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn1. Khái niệm đạo đức2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức:a/ Nguồn…
I2 - Iot - Chất hoá học 5

I2 – Iot – Chất hoá học

ContentsĐánh giá về Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn1. Khái niệm đạo đức2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức:a/ Nguồn…
7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt 6

7 lý do thú vị giải thích vì sao bạn thường xuyên bị muỗi đốt

ContentsĐánh giá về Đạo đức là gì? Nguồn gốc, bản chất, chức năng – buyer.com.vn1. Khái niệm đạo đức2. Nguồn gốc, bản chất của đạo đức:a/ Nguồn…